Freitag, 25. Juli 2014

BÌNH TUY

Nét sơ lược về Tỉnh Bình Tuy.
Bình Tuy là một tỉnh cũ thuộc Đông nam bộ Việt Nam, được lập dưới thời Việt Nam Cộng Hòa.






Hành chính


Bình Tuy là một trong 22 tỉnh của Nam phần được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thiết lập theo Sắc lệnh 143-NV của Tổng thống Ngô Đình Diệm  ký ngày 22 tháng 10 năm 1956. Đất đai Bình Tuy lấy từ một phần tỉnh Đồng nai thượng, và vùng  Tánh Linh, Hàm Tân của tỉnh Bình Thuận. Quan đầu tỉnh tiên khởi là thiếu tá Lê Văn Bường. Tòa Tỉnh đóng ở Thị trấn Lagi gần chùa Quảng Đức. Khoảng năm 1960 tòa hành chánh Tỉnh lại di dời lên dốc Tỉnh .

LỘC NINH, NỖI ĐAU CÒN DÀI


locninh
“Ngàn lẫm liệt tan trong chiều rã ngũ
Muôn anh hùng phút chốc hóa lang thang “
 (1)
Nguỵ tui là một người lính muộn màng của một thời khói lửa điêu linh . Trước sự xâm lược của bọn Cộng Sản Việt Nam (Việt Cộng), Nguỵ tui rất vô tình có thể nói là vô tâm . Sống tại Saigon, nơi an ninh gần như 100%, lâu lâu vọng về những tiếng đại bác như ru người vào cõi mộng mơ . Đi học, đi chơi không hề thắc mắc về chiến tranh, về những nỗi mất mát không bao giờ bù đắp đựợc.

Dienstag, 22. Juli 2014

BÌNH LONG- AN LỘC


THỊ Xà AN-LỘC 1960-1972
Địa danh An-Lộc là thị xã của tỉnh Bình-Long thuộc Quân đoàn III, đã đi vào lịch sử của cuộc chiến Việt-Nam. Mùa hè đỏ lửa 1972 với những cuộc tấn công qui mô, Cộng sản miền Bắc đã dốc toàn lực cố chiếm thị xã này để làm hậu thuẫn trong bàn hội nghị ngừng bắn, diễn ra tại Paris nước Pháp.....Nhưng cuối cùng đia danh An-lộc vẫn đứng vững.
Cùng giai đoạn này, ngày 29 tháng 7 năm 1972, khóa 4/71 SQ/TBTĐ mãn khóa... đã hân hạnh được lấy tên địa danh anh dũng này đặt tên cho khóa 4/71 là: AN-LỘC-471
... Nhiều Tân sĩ quan 471 sau khi ra trường cũng đã nhận nơi đây làm đơn vị phục vụ (Lê văn Thuận 323, Cao duy Đức 331, Bùi anh Tuấn 341,....)
 Bùi anh Tuấn 341 tại tiểu khu Bình Long


Việt Nam Qua Những Ðịa Danh Mang Tên CÁI


Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có tên gọi khác nhau. Tên gọi nầy được các triều đại, chế độ đặt cho. Bên cạnh việc làm đó chúng ta còn thấy những địa danh cũng do nhà cầm quyền đương thời hay các thời trước đặt tên. Riêng tại Việt Nam cũng không ra ngoài thông lệ đó. Thông thường tên những địa danh được đặt, mang nhiều ý nghĩa hàm chứa đựng những lời nhắn nhủ, khuyên răn như: Hoài Ân – Hoài Nhơn. Ðôi lúc cũng có tên danh nhân lịch sử, hầu nhắc nhở chúng ta không quên những công lao đóng góp của họ thí dụ: Cù Lao Ông Chưởng (Chưởng Binh Lễ).
Miền Bắc và miền Trung đều do nhà cầm quyền đặt cho các địa danh. Trái lại ở miền Nam lại khác, địa danh được đặt bởi những người dân địa phương đến ở trước, sau đó hình thành guồng máy chính quyền. Nên việc đặt tên cho địa danh, rất là đơn sơ, mộc mạc, không hoa mỹ như ở miền Trung hay miền Bắc, như: Cái Mơn, Cái Tắc. Trước khi nói về địa danh mang tên Cái, chúng ta hãy tìm hiểu lịch sử miền Nam và cuộc Nam tiến của nhân dân Việt Nam qua sự chỉ đạo của các Vua Chúa.

I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH MIỀN NAM

Vương Quốc Phù Nam:

Donnerstag, 17. Juli 2014

PETER HANSEN – BẮC DI CƯ: DÂN CÔNG GIÁO TỊ NẠN TỪ MIỀN BẮC VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ CỦA HỌ TẠI CỘNG HÒA MIỀN NAM, 1954-1959

Đôi bờ Hiền Lương - Photo by Howard Sochurek - 1961

Đôi bờ Hiền Lương - Photo by Howard Sochurek - 1961

Gia Kiệm, một thị trấn gần tám mươi nghìn dân, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng năm mươi ki lô mét trên đường đi Đà Lạt. Nó đáng chú ý về sự giàu có và quy củ, nhưng nét nổi bật nhất của nó là có rất nhiều nhà thờ Công giáo rải rác dọc theo đường cái, cách nhau chỉ khoảng vài trăm mét. Gia Kiệm không phải là một cộng đồng cổ. Thật ra, trước năm 1954, nó chỉ là một ngôi làng. Nhưng vào năm đó, Đức Cha Thaddeus Lê Hữu Từ đã chọn Gia Kiệm làm nơi tái định cư cho hàng ngàn dân Công giáo từ Giáo khu Phát Diệm ở miền bắc chạy vào nam. Đám con chiên của Lê Hữu Từ chẳng bao lâu đã có thêm những giáo dân từ những giáo khu khác của miền bắc, như Bùi Chu và Thanh Hóa hội nhập vào. Tên của những xứ đạo mới đến thiết lập ở Gia Kiệm gợi nhớ đến những gốc gác miền Bắc của họ: Phát Hội, Thanh Sơn, Phúc Nhạc, Ninh Phát, Kim Thượng vân vân.[1]

Hình ảnh xưa : PLEIKU phố núi 1969


Cuộc Di Tản Khỏi Pleiku

Người viết bài này thành thật xin lỗi phóng viên Nguyễn Tú vì đã dùng bài của ông mà không được phép trước. Tuy nhiên đây là một bài phóng sự đã gây bàng hoàng và xúc động cho hàng triệu người Việt Quốc Gia, vì thế tác giả xin ông thông cảm và lượng thứ cho. Xin chân thành cảm ơn ông.)

Vân Hải Nguyễn Xuân Hùng 


Mặc dầu được coi như xa với tiền tuyến, nhưng với những tin tức chiến sự hoàn toàn thất lợi cho phía Việt Nam Cộng Hòa như rút bỏ Huế, Đà Nẵng trong hoảng loạn, cuộc triệt thoái khỏi Pleiku của Quân Đoàn II, phòng tuyến Khánh Dương bị bung, Nha Trang bỏ ngỏ, phòng tuyến Phan Rang đã vỡ, tuyến thép Xuân Lộc Long Khánh đã gẫy, thủ đô Saigòn như một cái dầu mà nửa phần thân thể phía trên đã bị chặt rời từng mảnh đã gần như đi vào hoảng loạn và chiến tranh kịch liệt đã áp sát thủ đô.

SỰ THẬT VỀ CUỘC TRIỆT THOÁI KHỎI CAO NGUYÊN NĂM 1975

1 : TẠI SAO LẠI BỎ PLEIKU, KONTUM ?

Tài liệu của CIA : “Từ cuối tháng 12-1973 đến đầu tháng Giêng 1974 Tướng John Murray và ban tham mưu của ông đã làm việc ngày đêm để cố gắng tìm đáp số cho bài toán viện trợ quân sự. Nhưng mỗi lần họ tìm ra một giải pháp để giải quyết vấn đề thì lại phát sinh một vấn đề khác mà kết quả cũng chỉ đưa tới bí lối” ( Frank Snepp, Decent Interval, trang 95 ).
Cũng theo Frank Snepp, ngày 16-8-1974, John Murray họp buổi họp chót với Tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng; Tướng Đồng Văn Khuyên, Tổng cục trưởng Tổng cục Tiếp vận và một số tướng lãnh của Bộ TTM. John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2, và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4. Tuy nhiên “Tướng Viên lẫn Tướng Khuyên đều nói rằng lên kế hoạch về quân sự thì được, nhưng về mặt chính trị thì không thể nào thi hành nổi”. Sau bổi họp này thì John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ.

Phú Yên -Tháng Ba Tây Nguyên

Phú Yên

 Quân khu 2 VNCH bao gồm 12 tỉnh Kontum, Bình Định, Pleiku, Phú Bổn, Phú Yên, Khánh Hòa, Darlac, Quảng Đức, Tuyên Đức, Ninh Thuận, Lâm Đồng và Bình Thuận. Dân số Quân khu 2 thưa thớt hơn các quân khu khác, vào năm 1975 độ hơn 3 triệu người. Với một diện tích rộng lớn bằng gần một nửa VNCH trãi dài theo chiều dọc lảnh thổ thế nhưng lực lượng chủ lực chiến đấu của Quân đoàn 2 tại QK 2 chỉ có hai Sư đoàn SD 22 và 23 BB.
Theo sự phối trí của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, Sư đoàn 22 BB chịu trách nhiệm 5 tỉnh phía bắc của Quân khu 2 là Bình Định, Phú Yên, Phú Bổn, Pleiku và Kontum. Sư đoàn 23 BB trách nhiệm 7 tỉnh: Darlac, Tuyên Đức (bao gồm thành phố Đà Lạt), Quảng Đức, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Trong suốt 10 năm dài, từ 1965 đến 1975, áp lực CSBV luôn đè nặng tại khu vực phía tây các tỉnh Quảng Đức, Darlac, Pleiku, Kontum và một số khu vực thuộc hai tỉnh duyên hải Bình Định và Phú Yên.

Sau khi Phước Long thất thủ tháng 1/1975, tình hình tại Cao nguyên nói chung và thị xã Ban Mê Thuột của tỉnh Darlac nói riêng, xoay chuyển rất nhanh. Ðầu tháng 3/1975, quốc lộ 19 nối liền Pleiku và Qui Nhơn bị CSBV cắt đứt. Sáng ngày 6 tháng 3/1975, quận Thuần Mẫn thuộc tỉnh Phú Bổn bị lấn chiếm. 
Quốc lộ 21 nối liền Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, và Ban Mê Thuột cũng bị phong tỏa tại cây số 82 ranh giới giữa hai tỉnh Khánh Hòa và Darlac. Ðêm ngày 8 rạng ngày 9 tháng 3/1975, hai trung đoàn CSBV với sự trợ chiến của pháo binh và thiết giáp khởi sự tấn công và tràn ngập quận lỵ Ðức Lập thuộc tỉnh Quảng Ðức tiếp giáp phía nam của tỉnh Darlac.

Pháo Binh & LỮ ĐOÀN LIÊN BINH PHÒNG VỆ TỔNG THỐNG PHỦ

Pháo Binh khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức  
Nguyễn Thành Chí Đại tá Cư ngụ Nam Cali
Nguyễn Quang Chỉnh
Huỳnh Thu Chơn qua đời trước nam 1975
Trần Bá Cơ
Nguyễn Hiền Điểm Đại tá qua đời tại Virginia
Nguyễn Quí Đôn giai ngũ qua Bô Ngoại giao qua đời sau 1975
Nguyễn Văn Hưng
Phạm Thế Hùng qua đời tại Úc châu sau 1975
Nguyễn văn Khải Đại tá qua đời tại Pháp quốc
Nguyễn Như Kiệt
Vũ An Lân
Nguyễn Đình Lang Pháp quốc
Châu Hữu Lộc Đại tá KQ qua đời tại Pháp
Dương Văn Lý
Trần Văn Minh Trung tướng TL/KQ qua đời tại San Jose