Donnerstag, 17. Juli 2014

PETER HANSEN – BẮC DI CƯ: DÂN CÔNG GIÁO TỊ NẠN TỪ MIỀN BẮC VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ CỦA HỌ TẠI CỘNG HÒA MIỀN NAM, 1954-1959

Đôi bờ Hiền Lương - Photo by Howard Sochurek - 1961

Đôi bờ Hiền Lương - Photo by Howard Sochurek - 1961

Gia Kiệm, một thị trấn gần tám mươi nghìn dân, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng năm mươi ki lô mét trên đường đi Đà Lạt. Nó đáng chú ý về sự giàu có và quy củ, nhưng nét nổi bật nhất của nó là có rất nhiều nhà thờ Công giáo rải rác dọc theo đường cái, cách nhau chỉ khoảng vài trăm mét. Gia Kiệm không phải là một cộng đồng cổ. Thật ra, trước năm 1954, nó chỉ là một ngôi làng. Nhưng vào năm đó, Đức Cha Thaddeus Lê Hữu Từ đã chọn Gia Kiệm làm nơi tái định cư cho hàng ngàn dân Công giáo từ Giáo khu Phát Diệm ở miền bắc chạy vào nam. Đám con chiên của Lê Hữu Từ chẳng bao lâu đã có thêm những giáo dân từ những giáo khu khác của miền bắc, như Bùi Chu và Thanh Hóa hội nhập vào. Tên của những xứ đạo mới đến thiết lập ở Gia Kiệm gợi nhớ đến những gốc gác miền Bắc của họ: Phát Hội, Thanh Sơn, Phúc Nhạc, Ninh Phát, Kim Thượng vân vân.[1]

Hình ảnh xưa : PLEIKU phố núi 1969


Cuộc Di Tản Khỏi Pleiku

Người viết bài này thành thật xin lỗi phóng viên Nguyễn Tú vì đã dùng bài của ông mà không được phép trước. Tuy nhiên đây là một bài phóng sự đã gây bàng hoàng và xúc động cho hàng triệu người Việt Quốc Gia, vì thế tác giả xin ông thông cảm và lượng thứ cho. Xin chân thành cảm ơn ông.)

Vân Hải Nguyễn Xuân Hùng 


Mặc dầu được coi như xa với tiền tuyến, nhưng với những tin tức chiến sự hoàn toàn thất lợi cho phía Việt Nam Cộng Hòa như rút bỏ Huế, Đà Nẵng trong hoảng loạn, cuộc triệt thoái khỏi Pleiku của Quân Đoàn II, phòng tuyến Khánh Dương bị bung, Nha Trang bỏ ngỏ, phòng tuyến Phan Rang đã vỡ, tuyến thép Xuân Lộc Long Khánh đã gẫy, thủ đô Saigòn như một cái dầu mà nửa phần thân thể phía trên đã bị chặt rời từng mảnh đã gần như đi vào hoảng loạn và chiến tranh kịch liệt đã áp sát thủ đô.

SỰ THẬT VỀ CUỘC TRIỆT THOÁI KHỎI CAO NGUYÊN NĂM 1975

1 : TẠI SAO LẠI BỎ PLEIKU, KONTUM ?

Tài liệu của CIA : “Từ cuối tháng 12-1973 đến đầu tháng Giêng 1974 Tướng John Murray và ban tham mưu của ông đã làm việc ngày đêm để cố gắng tìm đáp số cho bài toán viện trợ quân sự. Nhưng mỗi lần họ tìm ra một giải pháp để giải quyết vấn đề thì lại phát sinh một vấn đề khác mà kết quả cũng chỉ đưa tới bí lối” ( Frank Snepp, Decent Interval, trang 95 ).
Cũng theo Frank Snepp, ngày 16-8-1974, John Murray họp buổi họp chót với Tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng; Tướng Đồng Văn Khuyên, Tổng cục trưởng Tổng cục Tiếp vận và một số tướng lãnh của Bộ TTM. John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2, và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4. Tuy nhiên “Tướng Viên lẫn Tướng Khuyên đều nói rằng lên kế hoạch về quân sự thì được, nhưng về mặt chính trị thì không thể nào thi hành nổi”. Sau bổi họp này thì John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ.

Phú Yên -Tháng Ba Tây Nguyên

Phú Yên

 Quân khu 2 VNCH bao gồm 12 tỉnh Kontum, Bình Định, Pleiku, Phú Bổn, Phú Yên, Khánh Hòa, Darlac, Quảng Đức, Tuyên Đức, Ninh Thuận, Lâm Đồng và Bình Thuận. Dân số Quân khu 2 thưa thớt hơn các quân khu khác, vào năm 1975 độ hơn 3 triệu người. Với một diện tích rộng lớn bằng gần một nửa VNCH trãi dài theo chiều dọc lảnh thổ thế nhưng lực lượng chủ lực chiến đấu của Quân đoàn 2 tại QK 2 chỉ có hai Sư đoàn SD 22 và 23 BB.
Theo sự phối trí của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, Sư đoàn 22 BB chịu trách nhiệm 5 tỉnh phía bắc của Quân khu 2 là Bình Định, Phú Yên, Phú Bổn, Pleiku và Kontum. Sư đoàn 23 BB trách nhiệm 7 tỉnh: Darlac, Tuyên Đức (bao gồm thành phố Đà Lạt), Quảng Đức, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Trong suốt 10 năm dài, từ 1965 đến 1975, áp lực CSBV luôn đè nặng tại khu vực phía tây các tỉnh Quảng Đức, Darlac, Pleiku, Kontum và một số khu vực thuộc hai tỉnh duyên hải Bình Định và Phú Yên.

Sau khi Phước Long thất thủ tháng 1/1975, tình hình tại Cao nguyên nói chung và thị xã Ban Mê Thuột của tỉnh Darlac nói riêng, xoay chuyển rất nhanh. Ðầu tháng 3/1975, quốc lộ 19 nối liền Pleiku và Qui Nhơn bị CSBV cắt đứt. Sáng ngày 6 tháng 3/1975, quận Thuần Mẫn thuộc tỉnh Phú Bổn bị lấn chiếm. 
Quốc lộ 21 nối liền Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, và Ban Mê Thuột cũng bị phong tỏa tại cây số 82 ranh giới giữa hai tỉnh Khánh Hòa và Darlac. Ðêm ngày 8 rạng ngày 9 tháng 3/1975, hai trung đoàn CSBV với sự trợ chiến của pháo binh và thiết giáp khởi sự tấn công và tràn ngập quận lỵ Ðức Lập thuộc tỉnh Quảng Ðức tiếp giáp phía nam của tỉnh Darlac.

Pháo Binh & LỮ ĐOÀN LIÊN BINH PHÒNG VỆ TỔNG THỐNG PHỦ

Pháo Binh khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức  
Nguyễn Thành Chí Đại tá Cư ngụ Nam Cali
Nguyễn Quang Chỉnh
Huỳnh Thu Chơn qua đời trước nam 1975
Trần Bá Cơ
Nguyễn Hiền Điểm Đại tá qua đời tại Virginia
Nguyễn Quí Đôn giai ngũ qua Bô Ngoại giao qua đời sau 1975
Nguyễn Văn Hưng
Phạm Thế Hùng qua đời tại Úc châu sau 1975
Nguyễn văn Khải Đại tá qua đời tại Pháp quốc
Nguyễn Như Kiệt
Vũ An Lân
Nguyễn Đình Lang Pháp quốc
Châu Hữu Lộc Đại tá KQ qua đời tại Pháp
Dương Văn Lý
Trần Văn Minh Trung tướng TL/KQ qua đời tại San Jose

Mittwoch, 16. Juli 2014

Cuộc tháo chạy tán loạn 30-4-1975 (The Decent Interval) - Frank Snepp.

Cuộc tháo chạy tán loạn 30-4-1975 (The Decent Interval) - Frank Snepp.

Phần Một : MỞ MÀN

TRỞ LẠI ĐÔNG DƯƠNG


Tháng 10 năm 1972, lúc tôi trở lại Sài Gòn sau một năm vắng mặt, cuộc tiến công của Bắc Việt Nam lắng xuống. Lời bàn tán sắp có hòa bình loan truyền khắp nước này. Từ nhiều  thập kỷ nay, lần đầu tiên, người Việt Nam mới lại có dịp mong ước chiến tranh sớm chấm dứt.

Ảnh ĐSQ Mỹ tại Sài Gòn trước 1975


Các Vị Chỉ Huy Trưởng Thiết Giáp Binh Kể Từ Ngày Thành Lập Binh Chủng

Từ 1955  đến  1956            :  Trung Tá         DƯƠNG NGỌC LẮM
     1956  --  1959            :  Trung Tá         HOÀNG  XUÂN LÃM
     1959  --  1963            :  Trung Tá         NGUYỄN  VĂN THIỆN
     1963  --  1964            :  Đại    Tá         VĨNH LỘC
     1964  --  1964            :  Trung Tá         NGUYỄN  ĐÌNH BẢNG
     1965  --  1965            :  Đại    Tá         LÂM QUANG THƠ
     1965  --  1969            :  Trung Tá         LƯƠNG BÙI TÙNG
     1969  --1969            :  Trung Tá         DƯƠNG VĂN ĐÔ
     1969  --  1972            :  Đại    Tá         PHAN HÒA HIỆP
     1972  --  1972            :  Thiếu Tướng   NGUYỄN VĂN TOÀN
     1972  --  1972            :  Đại    Tá         DƯƠNG VĂN ĐÔ
     1972  --  1974            :  Chuẩn Tướng  LÝ TÒNG BÁ
     1974  --  1975            :  Trung  Tướng  NGUYỄN VĂN TOÀN


Dienstag, 15. Juli 2014

TRẬN ĐỨC HUỆ

Bài của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi Tư lệnh Lữ đoàn 3 KB
Những hình ảnh quý giá trong bài được cung cấp bởi D.T.Vu
Lời giới thiệu: Vào những tháng đầu năm 1974, khi người bạn đồng minh Hoa Kỳ đã gần như hoàn tất lịch trình rút quân, bắt đầu cho một cuộc tháo chạy. Giữa những biến động chính trị và những vi phạm trầm trọng của Cộng sản Bắc Việt về Hiệp Định Ba Lê, và trong một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, thiếu thốn mọi phương tiện và nhu cầu quân sự để chiến đấu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tạo nên một chiến thắng lẫy lừng trong quân sử: Trận phản công chớp nhoáng giải vây đồn Đức Huệ. Đây là một trận đánh có bài bản, theo đúng sách lược binh thư, cộng với những sáng kiến táo bạo có tính toán, và yếu tố thần tốc bất ngờ đã đánh tan tành một sư đoàn bộ chiến xâm lược của Cộng sản Bắc Việt.

Truyện Kiều - Nguyễn Du




1..Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

5.. Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Cảo thơm lần giở trước đèn,
Phong tình có lục còn truyền sử xanh.
Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh,

10.. Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng.
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung.
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia.