Dienstag, 12. November 2019

từ trời trong Truyện Kiều.

1. Tìm hiểu Truyện Kiều ta thấy tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du được bộc lộ trên nhiều phương diện, đặc biệt ở lĩnh vực ngôn ngữ. Ông rất công phu trong việc tạo nên nhiều sắc thái ý nghĩa khác nhau cho những từ dùng quen thuộc. Chính điều này đã làm độc giả nhiều phen lúng túng về cách dùng từ của ông, không biết nên giải mã ra sao để hiểu ý thi nhân. Có khi từ một nghĩa gốc thông thường Nguyễn Du đã biết làm mới, tạo nên những lớp nghĩa hàm ẩn tùy theo các ngữ cảnh khác nhau. Nghĩa gốc - hiển ngôn thì đương nhiên dễ hiểu, nhưng nghĩa phái sinh -  hàm ý được tác giả tạo nên thì đôi lúc trở thành thách đố, gây nhiều phân vân, tranh cãi trong bạn đọc nói chung và trong giới nghiên cứu nói riêng. Vẫn biết việc đi sâu vào tìm hiểu một số từ ngữ trong Truyện Kiều là vấn đề vô cùng phức tạp, nhưng không phải vì thế mà ta ngại ngần bỏ qua. Với thái độ trân trọng đối với bậc tiền nhân, với lòng khâm phục tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du và yêu quí ngôn ngữ dân tộc, chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu một số từ ngữ thường được tranh luận trong giới học thuật như từ trời, từ xuân, từ duyên..Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ nghiên cứu về từ trời trong Truyện Kiều. Các bước nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện như sau:
- Thống kê số lần xuất hiện của từ trời.
- Phân tích nghĩa hàm ý của từ trời trong các ngữ cảnh đặc thù.
- Chỉ ra ý nghĩa tích cực của việc đa dạng hóa ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương
2.  Thống kê số lần xuất hiện của từ “trời” trong tác phẩm Truyện Kiều
Từ trời được Nguyễn Du sử dụng ở nhiều ngữ cảnh khác nhau. Dựa theo Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1974, trang 420), từ trời được Nguyễn Du sử dụng tới 82 lần, chia theo các nhóm: chỉ ông trời, thượng đế, tự nhiênchỉ bầu trời, không gianchỉ vùng trời, miền đất ở vùng trời ấychỉ thời tiết, thời gian.
Khảo sát Truyện Kiều, chúng tôi thấy Nguyễn Du đã sử dụng từ trời trong 89 lần. Như thế, ở Từ điển Truyện Kiều, học giả Đào Duy Anh đã bỏ sót 7 trường hợp, nằm ở các câu 41, 140, 172, 1030, 1346, 1514, 3049.  
2.1. Theo Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh, từ “trời” mang các nội dung sau:
a)Chỉ ông trời, thượng đế, tự nhiêngồm các câu:
Câu 6: Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen
Câu 29: Thông minh vốn sẵn tính trời
Câu150: Văn chương nết đất, thông minh tính trời
Câu 282: Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây
Câu 494: Tẻ vui, thôi cũng tính trời biết sao
Câu 596:  Oan này còn một kêu trời, nhưng xa
Câu 659: Trời làm chi cực bấy trời
Câu 715: Cơ trời dâu bể đa đoan
Câu 817: Rủi may âu cũng tại trời
Câu 832: Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham
Câu 892: Tiếng oan đã muốn vạch trời kêu lên
Câu 899: Từ đây góc bể, bên trời (Trùng: Chỉ bầu trời, không gian)
Câu 998: Người dù muốn quyết, trời nào đã cho
Câu 1018: Túc nhân âu cũng có trời ở trong
Câu 1065: Than ôi! Sắc nước, hương trời
Câu 1069: Tức gan riêng giận trời già
Câu 1179: Nàng rằng: Trời nhẽ có hay
Câu 2125:  Chứng minh có đất, có trời
Câu 2154: Tài tình chi lắm cho trời đất ghen
Câu 2309: Đạo trời, báo phục chỉn ghê
Câu 2391: Cho hay muôn sự tại trời
Câu 2648: Trời làm chi đến lâu ngày càng thương
Câu 2655: Sư rằng: Phúc họa đạo trời
Câu 2657: Có trời mà cũng tại ta
Câu 2684: Bán mình đã động hiếu tâm đến trời
Câu 2689: Khi nên, trời cũng chiều người
Câu 2694: Duyên ta mà cũng phúc trời chi không
Câu 2717: Tâm thành đã thấu đến trời
Câu 2861: Cửa trời rộng mở đường mây
Câu 2904: Hơn người trí dũng, nghiêng trời uy linh
Câu 2947: Năm mây bỗng thấy chiếu trời
Câu 3063: Rằng: Trong tác hợp cơ trời
Câu 3086: Dưới dày có đất, trên cao có trời
Câu 3121: Trời còn để có hôm nay
Câu 3241: Ngẫm hay muôn sự tại trời
Câu 3242: Trời kia đã bắt làm người có thân
Câu 3250: Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa
b) Chỉ bầu trời, không gian gồm các câu:
Câu 449: Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Câu 546: Cho đành lòng kẻ chân mây, cuối trời
Câu 566: Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa
Câu 899: Từ đây góc bể bên trời
Câu 910: Góc trời thăm thẳm, đêm ngày đăm đăm
Câu 979: Nàng rằng: Trời thẳm, đất dày
Câu 1041: Bên trời góc biển bơ vơ
Câu 1085: Trời tây lãng đãng bóng vàng
Câu 1132: Vuốt râu xuống đất, cánh dâu lên trời
Câu 1267: Song sa vò võ phương trời
Câu 1603: Long lanh đáy nước in trời
Câu 1638: Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời
Câu 1817: Bây giờ đất thấp, trời cao
Câu 1877: Bây giờ một vực, một trời
Câu 2033: Trời đông vừa rạng ngàn dâu
Câu 2062: Bóng hoa rợp đất, vẻ ngân ngang trời
Câu 2100: Không dưng chưa dễ mà bay đường trời
Câu 2171: Đội trời, đạp đất ở đời
Câu 2215: Trông vời trời biển mênh mang
Câu 2248: Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm
Câu 2251: Ngất trời, sát khí mơ màng
Câu 2381: Nàng rằng: Lồng lộng trời cao
Câu 2426: Dễ đem gan óc đền nghì trời mây
Câu 2441: Triều đình riêng một góc trời
Câu 2471: Chọc trời, khuấy nước mặc dầu
Câu 2524: Ầm ầm sát khí, ngất trời ai đang
Câu 2528: Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ
Câu 2550: Dọc ngang trời rộng, vẫy vùng biển khơi
Câu 2555: Năm năm trời biển ngang tàng
Câu 2607: Chân trời, mặt biển lênh đênh
Câu 2628: Trời cao, sông rộng một màu bao la
Câu 2634: Tấm lòng phó mặc trên trời, dưới sông
Câu 2763: Điều đâu sét đánh lưng trời
Câu 2830: Mênh mông nào biết biển trời nơi nao
Câu 2943: Nghĩ điều trời thẳm, vực sâu
Câu 3122: Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời
Câu 3166: Bỗng không cá nước, chim trời lỡ nhau
c)Chỉ vùng trời, miền đất ở vùng trời ấy có câu:
Câu 703: Trời Liêu non nước bao xa
d) Chỉ  thời tiết, thời giangồm các câu:
Câu 289: Cách tường phải buổi êm trời
Câu 484: Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa
Câu 783: Trời hôm, mây kéo tối rầm
Câu 914: Một trời thu để riêng ai một người
Câu 1777: Phải đêm êm ả chiều trời
Câu 1917: Tàng tàng trời mới bình minh
Câu 2239: Chốc đà mười mấy năm trời
Câu 3216: Gà đã gáy sáng, trời vừa rạng đông
2.2.Những câu chứa từ “trời” chưa được liệt kê trong Từ điển Truyện Kiều
Câu 41: Cỏ non xanh rợn chân trời
Câu 140: Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời
Câu 172: Mặt trời gác núi, chiêng đà thu không
Câu 1030: Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi
Câu 1346: Thân sau ai chịu tội trời ấy cho
Câu 1514: Lại mang những việc tày trời đến sau
Câu 3049: Trùng sinh ân nặng biển trời  
3. Phân tích cách dùng từ “trời” với nghĩa hàm ý trong một số ngữ cảnh tiêu biểu
Từ những gì đã được trình bày ở trên, có thể thấy, trong Từ điển Truyện Kiều,học giả Đào Duy Anh đã chia các câu thơ có sử dụng từ “trời” vào các nhóm khác nhau. Ở mỗi nhóm, từ “trời” mang một nghĩa đặc thù, chỉ định một đối tượng riêng. Về cơ bản, chúng tôi tán thành với cách chia nhóm ấy. Nhưng nếu tìm hiểu sâu từng ngữ cảnh xuất hiện từ “trời”, có thể thấy sự chia nhóm, phân loại của tác giả Từ điển Truyện Kiều vẫn còn có chỗ khiên cưỡng.
Sau đây, xin bàn sâu về một số trường hợp mà cách nhìn nhận của chúng tôi có phần khác với tác giả Từ điển Truyện Kiều. Tiếp đó, chúng tôi sẽ phân tích nghĩa của từ “trời” ở những câu mà học giả Đào Duy Anh chưa liệt kê trong công trình của mình.
3.1. Phân tích một số câu có dùng từ “trời” đã được liệt kê và chia nhóm trong Từ điển Truyện Kiều
         3.1.1. Nhóm chỉ ông trời, thượng đế; tự nhiên
Chúng tôi sẽ tìm hiểu các câu 596, 832, 899, 1065, 2861, 2904, 2947, 3121 được xếp vào nhóm này để xem từ trời có thật sự dùng để chỉ ông trời, thượng đế; tự nhiên hay chỉ một nội dung khác?
Câu 596: Oan này còn một kêu trời, nhưng xa.
         Trong câu này, việc kêu Trời của Kiều có tương tự việc ai đó khi bế tắc, tuyệt vọng, thường ngửa mặt than trời, với hàm ý cho rằng oan này chỉ có đấng siêu nhiên (ông trời) mới có khả năng thấu tỏ hay không?
          Sự thực, hiểu trời là ông trời trong trường hợp này có chỗ không hợp lí. Thứ nhất, lẽ nào trời không thấy sự vô tội của nhà họ Vương. Nếu ông trời là yếu tố tâm linh ngự trị trong tâm thức của Kiều, tại sao Kiều lại coi việc kêu trời là vô vọng (nhưng xa)? Thứ hai, vào thời điểm đầu tiên của vụ án, sự gay cấn được thể hiện rất rõ: về khách quan, bọn sai nha vừa tra tấn (Một dây vô lại buộc hai thâm tình), vừa vơ vét (Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham); về chủ quan, gia đình Vương ông đang lâm vào trạng thái hoảng hốt ngẩn ngơ. Chính bối cảnh này đã đủ gây choáng váng để nàng thốt lên câu ấy rồi chứ đâu phải đợi vụ án diễn biến theo thời gian rồi mới nghĩ việc kêu trời theo kiểu bình tĩnh, đầy lí trí như thế. Qua phân tích, rõ ràng động tháikêu trời của Kiều không nên được hiểu theo cách thông thường, mà ở đó có sự đánh đồng trời với ông Trời.
         Vậy có cách lí giải nào khác về từ trời trong câu thơOan này còn một kêu trời, nhưng xa?
        Sống trong xã hội phong kiến có luật pháp, khi quan được coi là “cha mẹ dân”, hay “đèn trời soi xét”, thì trước biến cố lớn xảy ra ở gia đình mình, là người có học, không loại trừ khả năng Kiều coi việc kêu Trời làkêu quan. Muốn rõ hơn về điều này, ta hãy xét tình cảnh của Kiều khi nàng muốn kêu oan:
Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ
Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây.
Hạ từ, van lạy suốt ngày,
Điếc tai lân tuất, phũ tay tồi tàn.
Giường cao rút ngược dây oan,
Dẫu là đá cũng nát gan, lọ người!
Mặt trông đau đớn rụng rời,
Oan này còn một kêu Trời, nhưng xa!
Tại nhà Vương ông, vụ án đầy oan khuất đang xảy ra. Trước sự uy hiếp của sai nha, nhà họ Vương đã tập trung vào việc kêu cứu. Từ cách thức kêu cứu của mình, chính gia đình Vương ông đã tạo cơ hội cho bọn sai nha thực hiện những hành vi bạo ngược (http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/cac-vu-an-trong-xa-hoi-truyen-kieu). Ở góc nhìn cá nhân của Kiều, suy từ bản chất vụ án đầy oan trái (khi mà kẻ thi hành công vụ -  sai nha - đại diện cho bộ máy pháp luật đang thực hiện những hành vi trắng trợn), nhìn nhận hiện trường, chứng kiến sự vô lại của sai nha(khi mà gia đình nàng tập trung kêu cứu, nhưng đáp trả chỉ là sự lỗ mãng Điếc tai lân tuất, phũ tay tồi tàn), nàng hoàn toàn mất niềm tin vào pháp luật. Cộng vào đó, ý nghĩ Một ngày lạ thói sai nha/Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền, khác nào một cách khẳng định không có “cha mẹ dân”, “đèn trời soi xét” nào cả. Như thế, phải trải qua thời gian kiểm chứng, suy luận, nàng mới nghĩ đếnkêu trời. Vậy nên, việc nàng có ý định kêu Trời thể hiện sự suy ngẫm chín chắn trước một sự kiện đang trực tiếp tác động vào đời sống của gia đình nàng. Do thấu tỏ vấn đề ở từng tiểu tiết của nó, Thúy Kiều cho rằng những gì xảy ra đều có sự thống nhất từ trên xuống dưới, nên nàng không còn tin tưởng vào quan lại, pháp luật. Vì vậy, nàng nghĩ đến việc bán mình, dùng tiền để lo lót cửa quan. Từ suy nghĩ và cách xử sự của Kiều, trong câu Oan này còn một kêu trời, nhưng xa, “trời”, “xa” được hiểu theo nghĩa ẩn dụ -  chẳng có công lí nào trong xã hội này để mà kêu oan, chỉ có tiền mới giải quyết được sự cố đang đẩy gia đình nàng vào tình thế khốn đốn.Vì thế, ta có thể nhận thấy việckêu trời, trong cảm nhận của Kiều, là việc vô vọng, vì trời chính là quan.
Câu 832: Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham
Trong dân gian, từ của trời được sử dụng trong nhiều hoàn cảnh giao tiếp như “của trời đừng động vào”, “tiếc chi của trời”, “của trời ấy mà”, “đi hôi của trời”, “tham của trời, cho chết”, “mất công giữ của trời”…  Như thế, trong giao tiếp, từ này đã được sử dụng theo một kết cấu chặt chẽ, thường hiểu theo nghĩa: những cái có sẵn ra đấy, không phải do mình làm ra, không thuộc về mình, nhưng mình lại muốn có được nó. Muốn hiểu từ trời trong câu thơ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham, ta cần xem ngữ cảnh xuất hiện của từ này ra sao:
Mẹo lừa đã mắc vào khuôn,
Sính nghi rẻ giá, nghinh hôn sẵn ngày
Mừng thầm: Cờ đã đến tay
Càng nhìn vẻ ngọc, càng say khúc vàng.
Đã nên quốc sắc, thiên hương,
Một cười này hẳn nghìn vàng chẳng ngoa!
Về đây, nước trước bẻ hoa,
Vương tôn quý khách ắt là đua nhau.
Hẳn ba trăm lạng kém đâu
Cũng đà vừa vốn còn sau thì lời.
Miếng ngon kề đến tận nơi,
Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham.
Lừa được Kiều, Mã Giám Sinh đang trong tâm trạng hí hửng trước “món hàng” hời, lời lãi nhìn ra mồn một. Dù tính toán hết sức kĩ lưỡng theo kiểu con buôn như thế, nhưng sự ham muốn về thân xác của gã đang bùng lên:
Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham
Qua câu thơ gồm hai vế cân xứng, có cách sử dụng lối điệp phó từ cũng (cũng tiếccũng tham), ta nhận thấy Mã Giám Sinh đang đắn đo, cân nhắc về miếng ngon trước mắt. Vốn nhà cũng tiếc, bởi cái đáng giá nhất của Kiều lúc này là trinh tiết, nếu Mã Giám Sinh độc chiếm, thì khác gì “mất vốn”. Còn như gã sở hữu nó mà vẫn giữ được vốn, thì rõ ràng phải dùng mưu mô, thủ đoạn để lừa khách làng chơi. Vì thế, Mã Giám Sinh tính sẵn chiêu bài:
Nước vỏ lựu, máu mào gà
Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên
Mập mờ đánh lận con đen
Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền, mất chi?
Khi mà tay phàm lại có sẵnMiếng ngon kề đến tận nơi, thì đối với Mã Giám Sinh,của trời cũng tham, điều này cũng là hiển nhiên. Duy chỉ có điều làm tay họ Mã còn chần chừ, lưỡng lự, ấy là dù nghĩ được cách lừa lọc để lấy lạivốn nhà, thì trong vốn nhà ấy còn có của Tú Bà (Chung lưng mở một ngôi hàng), vì thế, đó cũng sẽ là chướng ngại cho y. Nhưng Mã Giám Sinh là kẻ sẵn sàng đánh đổi “vị thế” làm chồng của mình một cách bỉ ổi nhất, theo kiểu “chịu đấm ăn xôi”:
Mụ già hoặc có điều gì
Liều công mất một buổi quì mà thôi.
Với bản chất ma mãnh, từng trải của con buôn, Mã Giám Sinh tìm ra giải pháp để dung hòa hai “lợi ích”: giữ được vốn nhà, đồng thời thỏa mãn được dục vọng. Như thế, qua tìm hiểu, ta nhận thấy liên ngữ  “miếng ngon”, “vốn nhà”, “của trời” đã được Nguyễn Du sử dụng theo cách nói ẩn dụ, dùng để chỉ giá trị của Thúy Kiều. Vì thế, trời trong câu thơ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham phải nằm trong kết cấu từ của trời, không tách ra riêng rẽ theo cách hiểu của trời là của ông trời.
Câu 1065: Than ôi! Sắc nước hương trời
Khi Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, Tú Bà nghĩ mưu chước dùng Sở Khanh để đưa nàng vào tròng. Tại đây, Sở Khanh đã dùng màn kịch bày tỏ tình ý với Kiều:
Bóng nga thấp thoáng dưới mành
Trông nàng, chàng cũng ra tình đeo đai:
“Than ôi! Sắc nước hương trời,
Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây?
Giá đành trong nguyệt trên mây,
Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa?
Tức gan riêng giận trời già.
Lòng này ai tỏ cho ta, hỡi lòng?
Thuyền quyên ví biết anh hùng,
Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi!”
Trong câu thơ Than ôi! Sắc nước hương trời, mặc dầu hương trời (thiên hương) có nguồn gốc như sau: Tương truyền, có một lần Đường Huyền Tông ngắm hoa trong nội điện, hỏi rằng bài thơ vịnh mẫu đơn nào hay nhất? Trần Tu tâu rằng: Câu thơ “Quốc sắc triêu hàm tửu/thiên hương dạ nhiễm y” (Sắc nước thấm rượu sáng, hương trời nhuốm áo đêm) của Lý Chính Phong là hay nhất. Từ đó, mẫu đơn đã có một danh xưng là “Quốc sắc thiên hương” (“Truyện Kiều”, khảo - chú - bình, nhóm tác giả: Phan Tử Phùng, Thế Anh, Nguyễn Khắc Bảo, Phan Văn Các, Phạm Quang Ái, Trần Đình Tuấn. Nhà xuất bản Lao động, năm 2015, trang 157), nhưng có lẽ trong ngữ cảnh này, Nguyễn Du không dùng với nghĩa ấy. Xét về cấu trúc ngữ pháp, sắc nước hương trời có tính liên kết chặt chẽ, là cụm từ mang tính cố định. Xét về nghĩa biểu đạt trong tình huống xuất hiện câu thơ trên, ta thấy ở màn kịch “anh hùng cứu mĩ nhân”, cụm từ sắc nước hương trời nằm trong chuỗi lời Sở Khanh, khi y dùng nó với chiêu ca ngợi Kiều: sắc nước hương trờitrong nguyệt trên mâyhoa (từ hoa dùng tới ba lần: Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa) để dụ nàng. Như thế, tổ hợp sắc nước hương trời được Nguyễn Du dùng để chỉ sắc đẹp của Kiều. Vì vậy, từ trời không thể tách ra, phải hiểu trong nghĩa tổng thể kết cấu ấy.
Câu 2861: Cửa trời rộng mở đường mây
Khi Kim Trọng hộ tang chú xong, quay lại vườn Thúy thì gia đình Vương ông rơi vào cảnh tan nát. Vương Quan, với chút chữ nghĩa của mình đã dùng nó để viết mướn, kiếm ăn qua ngày. Nhờ Kim Trọng quay lại, Vương Quan được tiếp tục con đường học hành, kết quả làVương, Kim đều đỗ đạt:
Chế khoa gặp hội tràng văn
Vương, Kim cùng chiếm bảng xuân một ngày.
Cửa trời rộng mở đường mây,
Hoa chào ngõ hạnh, hương bay dặm phần.
Trong một xã hội tiến bộ, khi mà Cửa trời rộng mở đường mây, thì dù là chàng Kim (vốn nhà trâm anh) hay chàng Vương (sa sút khó khăn), nếu có thực lực trên con đường học vấn đều được Hoa chào ngõ hạnh, hương bay dặm phần - sự tôn vinh rất long trọng. Như thế, trong câu thơ Cửa trời rộng mở đường mây, thì cửa trời chính là cửa vua (vua được coi là trời). Cách hiểu này thống nhất với ý kiến: Cửa trời: chỉ cửa nhà vua (“Truyện Kiều, khảo - chú - bình” , nhóm tác giả: Phan Tử Phùng, Thế Anh, Nguyễn Khắc Bảo, Phan Văn Các, Phạm Quang Ái, Trần Đình Tuấn, NXB Lao động, năm 2015, trang 733).
Câu 2904:Hơn người trí dũng, nghiêng trời uy linh
Câu thơ nằm trong đoạn kể việc Thăng đường chàng (Kim Trọng) mới hỏi tra họ Đô để tìm manh mối Thúy Kiều. Những thông tin từ họ Đô:
        “… Bỗng đâu lại gặp một người,
Hơn người trí dũng, nghiêng trời uy linh.
Trong tay mười vạn tinh binh
Kéo về đóng chặt một thành Lâm Tri.
Tóc tơ các tích mọi khi,
Oán thì trả oán, ân thì trả ân.
Đã nên có nghĩa, có nhân,
Trước sau trọn vẹn, xa gần ngợi khen.
Chưa tường được họ, được tên…
Trong mắt họ Đô, Từ Hải là một người, dù tên gọi cũng chưa hề biết, nhưng ông được nghe tiếng tăm chàng ở nhiều phương diện, đặc biệt về lĩnh vực quân sự. Trên thực tế, ngay từ đầu, tác giả đã giới thiệu năng lực quân sự Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài của Từ Hải. Người mà Trước cờ ai dám tranh cường, ở mọi lúc, mọi nơi, từ khát vọng chinh chiến (Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương), rồi tư thế trở về đón Kiều (Ngất trời, sát khí mơ màng/Đầy sông kình ngạc,chặt đường giáp binh), hay khi giúp Kiều báo ân, báo oán (Quân trung gươm lớn, giáo dài/ Vệ trong thị lập, cơ ngoài song phi/ Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi/ Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân/ Trướng hùm mở giữa trung quân)…, lúc nào Từ Hải cũng toát lên vẻ uy nghi của một dũng tướng. Với khả năng quân sự của của mình, Từ Hải đã làm thiên kinh động địa. Bởi thế, nghiêng trời (uy linh) là cách nói của Họ Đô nhằm ca ngợi sức mạnh vô biên của Từ Hải. Vậy nên từ trời ở ngữ cảnh này phải nằm trong kết cấu nghiêng trời, không thể tách ra để chỉ ông trời được.
Câu 2947: Năm mây bỗng thấy chiếu trời
Khi Kim Trọng và Vương Quan đỗ đạt, họ đã được vua phong làm quan. Dưới sự điều hành của vua, cả hai cùng thay đổi địa bàn làm việc:
Năm mây, bỗng thấy chiếu trời
Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành:
Kim thì nhậm cải Nam Bình
Chàng Vương cũng cải nhậm thành Phú Dương.
Sắm sanh xe ngựa vội vàng,
Hai nhà cùng thuận một đường phó  quan.
          Theo Từ điển tiếng Việt, chiếu thư: tờ chiếu của vua (Từ điển tiếng Việt, Viện khoa học xã hội Việt Nam – viện Ngôn ngữ học, năm 1992, trang 170). Nhưng vừa để thể hiện sự trân trọng, vừa để thể hiện uy quyền của nhà vua, trong câu thơ Năm mây, bỗng thấy chiếu trời, từ chiếu thư được thay bằngchiếu trời. Như thế, ở đây trời được xem là đồng nghĩa với vua.
Câu 3121: Trời còn để có hôm nay
Trong màn đoàn viên, khi Thúy Vân khơi mào việc nối lại duyên Kim - Kiều, Kiều từ chối vì nghĩ rằng mình không còn xứng đáng với Kim Trọng. Nhưng bằng lí lẽ của mình, chàng Kim đã khẳng định giá trị của Kiều:
Như nàng lấy hiếu làm trinh,
Bụi nào cho đục được mình ấy vay?
Trời còn để có hôm nay,
Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời;
Hoa tàn mà lại thêm tươi
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.
Ở góc nhìn của Kim Trọng, chàng cho rằng sự trở về của Kiều bây giờ không chỉ là Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời - Kiều được trả lại nguyên vẹn (Theo “Truyện Kiều”, khảo - chú - bình, trang 768: Kiều lúc sống đời tủi nhục cũng như hoa bị sương phủ, trăng bị mây che. Bây giờ đời khổ nhục hết rồi thì hoa lại tươi, trăng lại sáng), mà hơn thế nữa, giá trị Kiều còn tăng lên rất nhiềuHoa tàn mà lại thêm tươi/Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa. Chàng Kim cho rằng, để có hôm nay như vậy, đó chính là cái phúc, điều may mắn. Cũng theo chàng Kim, để hôm nay có được không gian đoàn tụ, sum họp, Kiều đã biết lấy hiếu làm trinh, đánh đổi tình yêu của mình để cứu người thân. Vậy nên Trời còn để có hôm nay, đấy chính là điều Kiều được hưởng từ sự hi sinh, lựa chọn của mình theo luật nhân - quả. Bởi thế, trong câu thơ trên, từ trời được Kim Trọng dùng để chỉ phúc đức.
           Qua việc phân tích nghĩa của từ trời trong các câu trên, ta thấy cách dùng của Nguyễn Du không phảichỉ ông trời, thượng đế; tự nhiên theo như nội dung phân nhóm của Đào Duy Anh mà mang nhiều nét nghĩa khác nhau.
          3.1.2. Nhóm chỉ bầu trời, không gian
Chúng tôi sẽ phân tích nghĩa từ trời trong các câu thuộc nhóm này (câu 546, 566, 910, 979, 1041,1267, 1817, 1877, 2100, 2171, 2248, 2251, 2381, 2426, 2441, 2471, 2524, 2550, 2555, 2607, 2763, 2830, 2943, 3166) để xem Nguyễn Du có thực dùng từ trời để chỉ bầu trời, không gianhay không?
Câu 546: Cho đành lòng kẻ chân mây, cuối trời
Trước khi chia tay Kiều để về hộ tang chú, Kim Trọng bộc bạch nỗi mình:
Sự đâu chưa kịp đôi hồi,
Duyên đâu chưa kịp một lời trao tơ.
Trăng thề còn đó trơ trơ,
Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng.
Ngoài nghìn dặm, chốc  ba đông,
Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy!
 Gìn vàng giữ ngọc cho hay,
Cho đành lòng kẻ chân mây, cuối trời.
Trong chi tiết này, ta thấy Kim Trọng muốn bày tỏ thái độ của chàng trước tình yêu, đồng thời cũng khao khát người yêu giữ ước nguyện. Ở câu thơ Cho đành lòng kẻ chân mây, cuối trời, muốn hiểu từ trời, ta phải xét cách tổ chức cấu trúc ngữ pháp của tổ hợp từ chứa nó. Nếu chân mây, cuối trời đứng một cách độc lập thì từ trời trong tổ hợp từ này sẽ được dùng đểchỉ bầu trời, không gian. Nhưng trong trường hợp này,chân mây, cuối trời lại được dùng một cách lệ thuộc, với mục đích bổ nghĩa cho danh từ kẻ trong cụm danh từ kẻ chân mây, cuối trời, nên từ trời ở câu thơ này lại mang một nét nghĩa khác. Như thế, trong cụm danh từkẻ chân mây, cuối trời, hoặc Kiều, hoặc Kim Trọng, nếu kẻ này ở chân mây, thì kẻ kia ở cuối trời (hiểu theo nghĩa ẩn dụ), hai vị trí cách xa nhau. Và như thế, từ trời được dùng để định vị vị trí nào đó của Kiều và Kim Trọng trong khoảng cách chia li của hai người.
Câu 566: Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa
Về Liêu Dương để hộ tang chú, trong xa cách, tình cảm Kim Trọng dành cho người yêu được Nguyễn Du diễn tả bằng những câu thơ trĩu nặng tâm tư:
Buồn trông phong cảnh quê người,
Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa,
Não người cữ gió, tuần mưa
Một ngày nặng gánh tương tư một ngày.
Từ những câu thơ trên, ta thấy không gian tâm trạng mở ra mênh mang rồi thu gọn vào cõi lòng quánh đặc. Điều đặc biệt ở đây, tác giả đã xây dựng những hình ảnh thơ phi thực. Nào là Buồn trông phong cảnh quê người, sao có thể trông bằng mắt, khi mà Liêu Dương cách trở sơn khê? (Theo “Truyện Kiều”, khảo - chú - bìnhTừ Bắc Kinh (Gia đình Kiều ở Bắc Kinh (Đi mua người ở Bắc Kinh đưa về) đi Liêu Dương, đoạn đường cũng gần bằng từ Bắc Kinh đi Lâm Truy (Thuộc khu Xương Duy cũ, có Trị sở là Thành phố Duy Phường tỉnh Sơn Đông Trung Quốc). Mã Giám sinh đưa Thúy Kiều đi bằng xe ngựa (Một xe trong cõi hồng trần như bay) phải “Vừa một tháng tròn tới nơi”. Kim Trọng “Buộc yên, quảy gánh, vội vàng” cũng phải ít ra mất một tháng). Nào là Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa (chàng Kim hình dung ở Liêu Dương, mình khác gì con chim quyên, nỗi nhớ dồn dập tới tấp như sóng trào (quyên nhặt), còn Kiều ở Bắc Kinh thì thờ ơ, không có tin tức chia sẻ (nhạn thưa). Với KimTrọng bây giờ, trong nỗi buồn tang tóc, khao khát một cánh thư của người yêu cũng là điều đáng được cảm thôngTrong văn học, những tình huống bất bình thường như thế vẫn được dùng, như ca dao có câuLỗ mũi mười tám gánh lông/Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho, hay trong thơ hiện đại, Tố Hữu viết Cho tôi hôn bàn chân em lạnh ngắt. Chính với cách dùng cường điệu ấy đã giúp nhân vật trữ tình bộc lộ các cung bậc cảm xúc của mình một cách mãnh liệt nhất.Yêu quá mà thành trách móc, hoài nghi vô cớ. Bằng cách sử dụng hai vế đối Đầu cành quyên nhặt >< cuối trời nhạn thưa, câu thơ đã tạo nên sự bất cân về trạng thái tình cảm Kim - Kiều trong trí tưởng tượng phong phú mang tính tâm lí của kẻ si tình. Xây dựng tình huống giả định mang tính dẫn dắt, Nguyễn Du giúp chúng ta nhận thấy dấu hiệu si mê trong tình yêu của Kim Trọng. Cũng vì thế, chàng lâm vào tình trạng âu sầu:
Não người cữ gió, tuần mưa
Một ngày nặng gánh tương tư một ngày.
Suy nghĩ, dày vò đếnnão người, cơn giông bão trong lòng tăng tiến theo thời gian (cữ gió àtuần mưa), nỗi nhớ người yêu thành “bệnh” tương tư, chồng chất từng ngày đè nặng nỗi niềm chàng Kim. Đọc những câu thơ “Buồn trông (…) tương tư một ngày”, ta nhận thấy dòng tâm trạng chàng Kim đã được cụ Nguyễn Du diễn đạt thật chặt chẽ, ý tứ: Buồn nhớ àhoài nghi, dằn vặt àcồn cào sóng gió. Phải chăng điều tưởng chừng như vô lí từ hình ảnh thơ phi thực lại chính là thước đo tình cảm chân thật của Kim Trọng dành cho Kiều? Nhìn chàng Kim, ta thấy có gì đấy rất cảm tính, yêu đến mê muội, nhưng thật đáng trân trọng bởi đó là căn bệnh trầm kha trong tình yêu ít ai tránh khỏi.
Như thế, muốn hiểu từ trời trong câu thơ Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa, ta phải đặt nó trong đoạn thơ nói về tâm trạng Kim Trọng khi xa cách người yêu. Từ những dấu hiệu về ngôn ngữ như đã phân tích, ta thấy từ trời trong câu thơ trên cũng có cách hiểu tương tự như từtrời trong câu Cho đành lòng kẻ chân mây, cuối trời.
Về hai câu thơ  Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa / Não người cữ gió, tuần mưa xưa nay đã được các học giả bàn cãi rất nhiều, vì thế bài viết này xin trích dẫn một số ý kiến (Theo thống kê trong sách “Truyện Kiều”, khảo - chú - bình, trang 304 - 308) để bạn đọc cùng tham khảo.
Đào Duy AnhĐầu cành quyên nhặt: Đầu cành thì chim quyên, tức là chim đỗ quyên kêu nhặt. Bấy giờ là cảnh đầu hè nên tiếng quyên kêu đã rộn. Đỗ quyên của Trung Quốc vốn là chim tu hú, vì nó kêu “tu hú” hay “cu cu” nên người Trung Quốc lấy chim đỗ quyên để tượng trưng cho lòng nhớ nước mà liên hệ với chuyện Vọng đế hay Thục đế. Sang nước ta thì thấy con chim cuốc có tiếng kêu “cuốc cuốc” vào mùa hè, đúng với âm Hán Việt của chữ “quốc” cho nên từ xưa người Việt Nam ta vẫn cho đỗ quyên là chim quốc mà xem chim quốc tượng trưng cho lòng nhớ nước, lòng yêu nước. Nhưng ở câu này tiếng chim quyên chỉ là dùng để tả thời tiết mùa hè thôi - cuối trời nhạn thưa: ở cuối trời chim nhạn đã bay cả về miền Bắc rồi (Truyện Kiều, Đào Duy Anh, Nhà xuất bản Đà Nẵng 2007).
Nguyễn Quảng Tuân: Vì không biết chim quyên là loại chim gì nên mọi người mới đoán quanh là con cuốc hoặc con tu hú và mới cho rằng Nguyễn Du dùng chữ “đầu cành” chưa được chỉnh. Sự thực chim quyên là một giống chim khác hẳn với chim cuốc và chim tu hú… Nguyễn Du ở đây tả cảnh cuối hè sang thu tức là đúng vào thời gian chim quên bay từng đàn từ trên rừng núi xuống đồng bằng và kêu hót ở đầu cành (Đầu cành quyên nhặt). Trái lại con quyên gọi vào hè thì con quyên đó là con cuốc như Nguyễn Du đã nói đến trong câu Dưới trăng quyên đã gọi hè. Chúng ta phải nhận định rõ ràng nếu không sẽ dễ lầm lẫn: Chim quyên, hót ban ngày, đậu trên cành cây, hót rất nhiều vào mùa thu. Con đỗ quyên, ta quen gọi là con cuốc, kêu về đêm, thường lủi ở bờ nước trong bụi rậm, kêu về mùa hè…
An Chi:
Độc giả:  Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa và Dưới trăng quyên đã gọi hè. Chim quyên là chim gì và hai con chim trên đây có phải là một  hay không?
An Chi: Nguyễn Quảng Tuân cho rằng đó là hai thứ chim  khác nhau còn phần lớn các nhà chú giải thì lạicho rằng đó chỉ là một. Theo nhiều người đó là con cuốc, tức con quấc (Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, Trúc Viên Lê Mạnh Liêu, Nguyễn Thạch Giang). Còn theo Đào Duy Anh thì đó là con chim tu hú (Từ điển Truyện Kiều, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1974, trang 322). Chúng tôi tán thành Đào Duy Anh vì cũng cho rằng quyên là chimtu hú chứ không phải chim cuốc. Con cuốc, tiếng Hán gọi là Phiền (…) hoặc Cô ác, không liên quan gì đến tích vua Vọng Đế của nước Thục là Đỗ Vũ. Chỉ có quyên mới thực sự liên quan đến sự tích của ông vua này nên đã “ăn theo”, thậm chí còn “ăn theo” cả họ lẫn tên mà được gọi là “đỗ vũ”; về sau lại có thêm các tên gọi khác nữa là: tử quyêntử quytử huềtư quy và thôi quy. Nhưng tên gốc của nó thì vẫn chỉ là quyên, còn tên thông dụng là đỗ quyên (Trích tạp chí Kiến thức ngày nay, số 203, năm 1996).
Vương Trung Hiếu: Trong một lần vào mạng Internet tôi tình cờ phát hiện ra bài Từ “mèo hóa cáo” đến “gà hóa quốc” của ông An Chi đăng  trên tạp chí Người đô thị trong đó có bàn về từ cuốc, vì thế tôi xin phép trao đổi luôn ở đây. Ông An Chi viết: “Đỗ quyên là một loại chim thuộc họ Cuulidae mà tên khoa học là Eudynamys scolopacea, tức chim tu hú, chứ không phải là con cuốc như nhiều người đã hiểu nhầm”. Trong Từ điển Truyện Kiề” (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1974, trang 322), Đào Duy Anh đã giảng chữ quyên này một cách hoàn toàn chính xác: “Chim đỗ quyên vốn là chim tu hú, hay kêu về mùa hè. Ở nước ta nhiều người lộn nó với chim cuốc cũng kêu về mùa hè, do tiếng nó kêu quốc quốc mà liên hệ với điển Vọng - đế chết hóa thành chim đỗ quyên”. Ông An Chi dựa vào từ điển của học giả Đào Duy Anh để nhận định như thế… Tóm lại, hai loại chim tu hú và đỗ quyên cùng họ nhưng khác giống, cộng với từ “quyên” giống nhau giữa táo quyên và đỗ quyên nên học giả Đào Duy Anh mới giảng lầm, dẫn tới việc ông An Chi… “trật đường ray” theo. Vậy, chắc chắn rằng đỗ quyên không phải là chim tu hú mà chính là chim quốc (chim cuốc) (Trích bài: Cái Gia Gia Là…Cái Nhà, mục Đối Thoại, nguồn www.vanchuongviet.org).
“Truyện Kiều”, khảo - chú - bình”:
Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưalà nói về cây hoa đỗ quyên ở Liêu Dương. 
Qua những nguồn tư liệu trên, ta thấy hầu như các học giả khi tìm hiểu giá trị hai câu thơ Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa/Não người cữ gió, tuần mưa đều chú trọng vào nghĩa hiển ngôn của ngôn ngữ mà chưa chú ý đến hình ảnh thơ tượng trưng, mang nghĩa hàm ngôn của nó.
Với câu thơ Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa, dù quyên là tu hú, là quốc hay gì đi chăng nữa, thì nó cũng chỉ được dùng với mục đích diễn tả nỗi nhớ của Kim Trọng. Từ xưa người Việt Nam ta vẫn cho đỗ quyên là chim quốc mà xem chim quốc tượng trưng cho lòng nhớ nước, có lẽ thế mà Nguyễn Du đã linh hoạt trong việc chuyển nghĩa, lấy quyên tượng trưng cho lòng nhớ nhung (quyên nhặt), nỗi nhớ liên tục, khôn nguôi của Kim Trọng dành cho Kiều trong xa cách. Còn nhạn được dùng để nói việc báo tin, vì lúc này Kiều đang ở cuối trời (Bắc Kinh), Kim Trọng ở Liêu Dương chẳng thể biết tin tức gì về nàng (Theo Lê Mạnh Chiến, trong bài viếtCớ sao đổi tên chim Én thành chim Nhạn, www.vanhoanghean.com.vn:Chim nhạn đã đi vào văn thơ Việt Nam với nghĩa bóng là phái viên đưa thư). Vì thế, hình ảnh chim nhạn đã xuất hiện nhiều trong văn thơ cổ: Mây giăng ải bắc trông tin nhạn/Ngày xế non nam bặt tiếng hồng (Xúc cảnh - Nguyễn Đình Chiểu); hay Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng/ Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền (Cung oán ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều). Với cách dùng hình ảnh “quyên”, “nhạn” mang ý nghĩa tượng trưng như thế, đó chẳng phải tác giả nhằm tạo ra sự đối nghịch quên nhặt><nhạn thưa với dụng ý bộc lộ hai thái cực cảm xúc khao khát >< hờ hững (Trong trí tưởng tượng “phong phú” của Kim Trọng) hay sao?
Còn câu thơ Não người cữ gió, tuần mưa, sách “Truyện Kiều”, khảo - chú - bình đã dẫn: “Đào Duy Anh:chỉ mức thời gian, thường cứ bảy ngày một cữ, mười ngày là một tuần, cũng dùng như từ tiết. Người đi xa phải trải qua cữ gió này tuần mưa khác. Đàm Duy Tạo: Đối với người phải kiêng tránh nắng gió thì người ta gọi bảy ngày là một cữ, mười ngày là một tuần. Sau người ta dùng chữ cữ và chữ tuần để nói sự kiêng nắng gió. Nói như đàn bà đẻ là ở cữ; người lên đậu phải ở cữ; thấy cổng nhà nào hay cửa buồng ai đó có treo cành đa, lá dứa để cấm cữ thì người lạ chớ vào. Câu “Não người cữ gió, tuần mưa” dùng chữ cữ và chữ tuần là kiêng như vậy. Nghĩa hai câu này nói Kim thương Kiều phải vì mình mà giữ gìn kiêng tránh mọi điều, không dám đi chơi bời tiêu khiển đâu, chỉ âm thầm ngồi nhà để ngày càng nhớ mình khổ lòng thêm mãi”.
Như vậy, theo Đào Duy Anh, Người đi xa phải trải qua cữ gió này tuần mưa khác. Nhưng xét về ngữ cảnh, câu thơ này nằm trong dòng mạch tâm trạng của Kim Trọng khi ở Liêu Dương đang nhớ/ nghĩ đến người yêu thì sao cữ gió, tuần mưa được coi là hiện tượng của thiên nhiên? Với cách hiểu như vậy, chẳng phải câu thơ bị tách ra ngoài dòng tâm trạng vốn đang diễn biến theo qui luật tâm lí mang tính logic của nó hay sao?
Về ý kiến của Đàm Duy Tạo, dùng chữ cữ và chữ tuần là kiêng như vậy, nếu cho cữ là kiêng cữ (kiểu người đẻ ở cữ), vậytuần thì kiêng về cái gì?  Rồi nếu cho rằng Kim thương Kiều phải vì mình mà giữ gìn kiêng tránh mọi điều, không dám đi chơi bời tiêu khiển đâu, chỉ âm thầm ngồi nhà để ngày càng nhớ mình khổ lòng thêm mãi, tưởng tượng ra được như thế thì hẳn rằng chàng cũng nhẹ lòng thanh thản và hạnh phúc bởi “được yêu” chứ đâu đến nỗi Một ngày nặng gánh tương tư một ngày, lòng sóng gió, đè nặng cả tâm tư!
Lí giải hai câu thơ Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa/ Não người cữ gió, tuần mưa, có lẽ ta không nên “cụ thể hóa”, “thực hóa” dẫn đến “trần trụi hóa” ngôn ngữ văn chương, mà nên coi đó là những hình ảnh thơ mang tính biểu tượng trong ý đồ sáng tạo của nhà thơ.
Câu 899: Từ đây góc bể bên trời (góc bể chân trời)
Từ trời trong câu này có cách giải thích tương tự câu 546 (Cho đành lòng kẻ chân mây, cuối trời)
Câu 910:Góc trời thăm thẳm, đêm ngày đăm đăm
Mua bán xong xuôi, Kiều phải đi theo Mã Giám Sinh:
Đùng đùng gió giục mây vần
Một xe trong cõi hồng trần như bay
Trông vời, gạt lệ chia tay,
Góc trời thăm thẳm, đêm ngày đăm đăm.
Nàng thì dặm khách xa xăm,
Bạc phau cầu giá, đen rầm ngàn mây.
Một không gian rợn ớn rợn “Đùng đùng gió giục mây vần”, “Bạc phau cầu giá, đen rầm ngàn mây” đang bủa vây như để tốc nàng đi giữa cõi hồng trần vô định. Đau đớn, cô quạnh trên dặm đường đêm ngày đăm đăm, nơi nào sẽ điểm dừng chân của Kiều? Một loạt từ láy thăm thẳmđăm đămxa xăm gợi tả điểm nhìn tâm trạng của Kiều trên chặng đường hun hút. Bởi thế góc trời thăm thẳm, đó là nơi Kiều sẽ đến (dù không biết trước nơi nào). Vậy nên trong ngữ cảnh này, từ được dùng chỉ vị trí chứ không phải chỉ bầu trời, không gian
Câu 979: Nàng rằng: Trời thẳm, đất dày
Khi Mã Giám Sinh đưa Kiều về Lâm Tri, gặp mặt Tú Bà, Kiều mới biết mình bị mắc mưu tên buôn người này. Đã bị lừa, thêm vào đó bị Tú Bà thóa mạ, xúc phạm đến nhân phẩm, Kiều uẩn ức, rút dao tự vẫn. Trước khi dứt dây phong trần, nàng bày tỏ một thái độ rất rõ ràng về sự lựa chọn của mình:
         Nàng rằng: “Trời thẳm, đất dày!
Thân này đã bỏ những ngày ra đi!
Thôi thì thôi, có tiếc gì!”
Bán mình vì hiếu nghĩa, nhưng gặp phải phường vô lương, Kiều đang lâm vào cảnh bế tắc, tuyệt vọng. Với cái tâm đưa thân mình cứu cha, trời đất thấu rõ, giờ đây thân này chẳng tiếc. Trời thẳm, đất dày sẽ chứng giám cho tấm lòng nàng. Dựa vào cách biểu đạt ấy, ta nhận thấy trong câu thơ Nàng rằng: Trời thẳm, đất dày, từ trời đất được dùng với tư cách là nhân chứng chứng minh cho tấm lòng của Kiều trong hoàn cảnh bất đắc dĩ phải hành động bột phát như vậy.
Câu 1041: Bên trời góc biển bơ vơ
Câu này nằm trong đoạn thơ độc thoại nội tâm của Kiều khi nàng bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích:
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc biển bơ vơ.
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai,
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
Trong “Truyện Kiều”, khảo - chú - bình (trang 413) đã trích dẫn ý kiến của Đào Duy Anh về cách hiểu cụm từ bên trời góc bể (biển): chỉ chỗ xa xôi ở phía chân trời, ở xa ngoài biển, chữ Hán là “thiên nhai hải dác”. Đương nhiên, từ trời ở đây phải đặt trong  cụm từ bên trời góc biển thì mới có ý nghĩa biểu ý trọn vẹn. Nhưng thiết nghĩ, cụm từ này không nhằm chỉ không gian phía chân trời và ngoài biển như cách giải thích của cụ Đào Duy Anh. Bởi, lúc này từ điểm nhìn lầu Ngưng Bích, Kiều đang trong trạng thái bơ vơ, cô quạnh giữa Bốn bề bát ngát xa trông. Không gian càng rộng, Kiều càng lẻ loi, cô đơn. Nàng có cảm giác mình bơ vơ nơi bên trời góc biển. Trong nỗi cô đơn, Kiều dành tình cảm cho người yêu, cha mẹ bằng dòng nội tâm nao lòng. Vậy cho nên bên trời góc biển là không gian tâm lí, nơi nàng đang rất trống trải trong cõi lòng. Vì thế, bên trời góc biển chính là địa điểm lầu Ngưng Bích đang ngày đêm giam lỏng nàng. Sống giữa không gian rợn ngợp này, Thúy Kiều càng ngày càng phải đối diện với sự cô đơn, hãi hùng của chính mình.
Câu 1267: Song sa vò võ phương trời
Mắc mưu Tú Bà và Sở Khanh, Kiều buộc phải vào lầu xanh. Nỗi đau đớn, nhục nhã của Kiều được Nguyễn Du miêu tả:
Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
(…)
Song sa vò võ phương trời
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng.
Qua dòng độc thoại nội tâm ta thấy được bi kịch của Kiều nơi chốn lầu xanh. Xót xa nơi đất khách quê người, nàng gửi nỗi lòng về cha mẹ (Nhớ ơn chín chữ cao sâu), nghĩ về mối tình “đứt gánh giữa đường” (Nhớ lời nguyện ước ba sinh/Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?), mong muốn Thúy Vân đền bồi thay mình (Hoa kia đã chắp cành này cho chưa?). Vì thế, từ phương trời trong câu thơ Song sa vò võ phương trời có thể được dùng theo một trong hai cách: Phương trời - nơi những người thân của Kiều ở Bắc Kinh, hoặc phương trời - nơi lầu xanh đang đày đọa Kiều ở Lâm Tri. Dù Bắc Kinh hay Lâm Tri, thì từ trời (phương trời) được dùng để chỉ vị trí, địa điểm.
Câu 1817: Bây giờ đất thấp, trời cao
Khi Thúc Sinh trở về Vô Tich, tại gia tư Hoạn Thư, bất ngờ thấy Thúc Sinh, Kiều trong tâm trạng hốt hoảng:
Phải chăng nắng quáng, đèn lòa
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai!
Chước đâu có chước lạ đời!
Người đâu mà lại có người tinh ma!
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở, chúa nhà, đôi nơi!
Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp, trời cao,
Ăn làm sao, nói làm sao bây giờ?
Sự xuất hiện của Thúc Sinh ở nhà họ Hoạn lúc này đủ để Kiều nhận ra mình bị “cài bẫy”. Sau giây phút bàng hoàng, nàng bắt đầu suy xét về mọi hành vi của Hoạn Thư. Điều đầu tiên, Kiều nhìn nhận về Hoạn Thư như một người cơ mưu, kế hiểm có những “chước lạ đời”(…)Ở vào vị trí, hoàn cảnh bây giờ, từ góc nhìn của nỗi khiếp sợ, Kiều nhận xét bề ngoài Hoạn Thư ra như thế (…) Nhưng nàng đâu biết rằng, vì Thúc Sinh không tuân thủ luật lệ gia đình, không tôn trọng giá trị mình đang có, vội “thăm ván bán thuyền”, thì việc Hoạn Thư “xích” Kiều về âu cũng là lẽ thường tình. Cũng như Kiều không hiểu tường tận diễn biến khi Thúc Sinh về thăm nhà trước đó, nên làm sao thông cảm cho Hoạn Thư (...)  Hơn nữa, những việc làm của Hoạn Thư đều hướng vào việc bảo vệ nền tảng của gia đình (Hoạn Thư, nết ăn ở và lí lẽ, trích trong sách“Truyện Kiều, chưa xong điều nghĩ…”, NXB Hội nhà văn, năm 2016, trang 51)Không hiểu bản chất sự việc, Kiều hồ đồ kết tội Hoạn Thư nào làrẽ thúy chia uyên, nào là Bề ngoài thơn thớt nói cười/ Mà trong nham hiểm giết người không daoBây giờ, trước tình huống đang xảy ra bất thình lình, Kiều cho rằng đất thấp - cái họa do tiểu thư họ Hoạn sắp đặt đang cận kề; trời cao - lẽ phải thì rất xa, bởi trong hoàn cảnh hiện tại, nàng chẳng thể nào bào chữa cho danh phận của mình. Như thế, trong câu thơ Bây giờ đất thấp, trời cao, theơ cách nhìn nhận của Kiều thì trời ở đây là phép nước (Kiều được quan phủ làm lễ hôn thú giữa công đường).
Về từ trời trong câu này có những cách hiểu khác nhau. Theo sách “Truyện Kiều”, khảo - chú - bình (trang 551) đã dẫn:
Đào Duy Anh: Đất ở thấp, trời ở cao, có kêu gọi đâu được.
Văn Hòe: Một bên ở dưới đất thấp, một bên ở trên trời cao, ý nói hai bên cách biệt nhau như trời với đất. Thúc Sinh với Kiều vốn là vợ chồng (Rõ ràng thật lứa đôi ta), nay hai người cách biệt nhau như trời với đất, là vì một bên là con ở (Kiều), một bên là chủ nhà (Thúc Sinh).
Theo cách hiểu của Đào Duy Anh Đất ở thấp, trời ở cao, có kêu gọi đâu được, có lẽ chỉ hợp lí khi câu  Bây giờ đất thấp, trời cao đứng độc lập một mình. Còn xét trong ngữ cảnh xuất hiện của câu này, ta thấy Kiều hoàn toàn không có ý định kêu gọi trời, đất. Thúc Sinh xuất hiện, tình huống gay cấn xảy ra đột ngột, nhưng Kiều vẫn đủ tỉnh táo biện hộ cho mình Rõ ràng thật lứa đôi ta để đổ cho Hoạn Thư tội chia rẽ Làm ra con ở, chúa nhà đôi nơi. Không chỉ thế, kèm theo là sự đánh giá đầy hậm hực của nàng về tiểu thư họ HoạnBề ngoài thơn thớt nói cười / Mà trong nham hiểm giết người không dao. Trong trường hợp này, Kiều đã cho mình là đúng, nhưng do nằm vào tình thế bị động, “trở tay không kịp”, nên nàng cảm thấy mối hiểm họa đang gần, điều cần minh bạch của mình thì khó lòng giãi bày.Ăn làm sao, nói làm sao bây giờ?, nàng đang lúng túng. Điều này có lí, bởi đúng lẽ, trong xã hội nàng đang sống, trong mối quan hệ giữa Thúc Sinh và nàng, “danh chính ngôn thuận”, Hoạn Thư với vai trò vợ cả phải có sự đồng thuận. Nhưng điều này đã được bưng bít, có nghĩa là Kiều và Thúc Sinh đã vượt ra khỏi gia pháp, vậy sao có thể đưa “phép nước” để trình chiếu “phép nhà” lúc này được. Bởi thế, trời cao trong câu thơ Bây giờ đất thấp, trời cao chính là “phép nước” đã công nhận thật lứa đôi ta của Kiều. Nhưng tiếc thay, vào hoàn cảnh này, dù thông minh nàng cũng khó lòng vận dụng. Cũng chính vì thế, trong tình huống bất ngờ xảy ra, Kiều không nghĩ đến kêu trời, mà có chăng chỉ xót xa về việc nàng đã tính liệu cho Thúc Sinh về gặp Hoạn Thư Đến nhà, trước liệu nói sòng cho minh cốt đế Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm, nhưng việc đã không thành để hôm nay hứng chịu hậu quả.
Còn ý kiến của Văn Hòe cho rằng Kiều và Thúc Sinh hai người cách biệt nhau như trời với đất, là vì một bên là con ở (Kiều), một bên là chủ nhà (Thúc Sinh) thì có lẽ không phù hợp. Trong màn bi kịch này, dù Thúc Sinh đang trong vai trò chồng Hoạn Thư - ông chủ, thì vào lúc này, cái hình thức ấy không thể ngụy biện cho trạng thái phách lạc hồn xiêu và nỗi đaunát ruột tan hồn của chàng. Cũng dễ hiểu, bởi trong ván bài đang diễn ra tại gia tư họ Hoạn, Kiều hiểu mình và Thúc Sinh đều là nạn nhân, “bị cáo” dưới trướng của Hoạn Thư, vậy nên tại thời điểm này, sao nàng có thể đánh đồng Thúc Sinh là trời cao được.
Câu 1877: Bây giờ một vực, một trời
Màn bi kịch xảy ra ở gia tư nhà họ Hoạn của ba nhân vật Thúc Sinh, Hoạn Thư, Thúy Kiều đã đến hồi kết, nhưng với Thúy Kiều thì nỗi đau còn âm ỉ:
Người vào chung gối loan phòng
Nàng ra tựa bóng đèn dong canh dài.
Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen, đâu có lạ đời nhà ghen!
Chước đâu rẽ thúy chia uyên
Ai ra đường nấy, ai nhìn được ai?
Bây giờ một vực, một trời,
Hết điều khinh trọng, hết lời thị phi!
Nhẹ như bấc, nặng như chì,
Gỡ cho ra nữa, còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên
Bể sâu, sóng cả, có tuyền được vay?
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy, năm canh.
Bây giờ, rõ ràng cả Thúc Sinh và Kiều đều là nạn nhân của bi kịch ghen tuông. Giá như Thúc Sinh nghe lời Kiều Xin chàng kíp liệu lại nhà/Trước người đẹp ý, sau ta biết tình, giá như Kiều biết cách biện hộ cho danh phận của mình ở nhà họ Thúc khi nàng được Kíp truyền sắm sửa lễ công/ Kiệu hoa lướt gió, đuốc hồng điểm sao trong sự đồng thuận Dâu con trong đạo gia đình? Nếu thế thì rõ ràng mọi việc diễn ra nhẹ như bấc chứ đâu đến nỗi gánh chịu hậu quả nghiệt ngã như hôm nay. Nhưng vì cả hai không biết cách ứng xử hoàn cảnh nên vở diễn do Hoạn Thư sắp đặt đã đẩy Kiều và Thúc Sinh vào nghịch cảnh nặng như chì, đầy đau đớn. Chính điều này đã tạo cho Hoạn Thư làm nên một sự phân định rạch ròi về mối quan hệ của Thúc Sinh và Kiều: ông chủ/đầy tớ. Qua cặp lục bát Người vào chung gối loan phòng/Nàng ra tựa bóng đèn dong canh dài, ta nhận ra một nghịch cảnh của Kiều và Thúc Sinh. Cả Kiều và Thúc Sinh đều cùng cảnh ngộ, là con bài trong tay Hoạn Thư, nhưng ở gia tư họ Hoạn bây giờ, Thúc Sinh là phu quân của bà chủ, chàng hiển nhiên được “hưởng” quyền chung gối loan phòng. Và chàng cũng đã cung cúc tuân thủ, không một lời hé răng biện hộ cho Kiều, không một biểu lộ thoái thác quyền lợi làm chồng của Hoạn Thư!? Hết điều khinh trọng, hết lời thị phi, là người có danh phận trong nhà họ Thúc, nhưng giờ đây, dù bên cạnh Thúc Sinh, Kiều cũng chỉ trong thân phận con hầu mà thôi, không còn gì bàn cãi! Một mình âm ỉ đêm chầy, càng nghĩ, Kiều càng thấm thía sự lo âu của mình trước bể sâu, sóng cả. Mối quan hệ chủ/tớ giữa Kiều và Thúc Sinh được Hoạn Thư phân định rạch ròi, đúng như dòng độc thoại nội tâm của Kiều Bây giờ một vực, một trời. Vì thế, trong câu thơ này, từ trời được dùng chỉ vị thế Thúc Sinh trong nhà họ Hoạn. 
Về tổ hợp từ một vực, một trời, theo sách “Truyện Kiều”, khảo - chú - bình (trang 564) đã dẫn, ý kiến của Văn Hòe: Kiều so sánh mình với Hoạn Thư thấy bây giờ hơn kém nhau như một người ở dưới vực sâu, một người ở trên trời cao, không còn ra vợ cả vợ lẽ nữa.
Nếu dựa theo cách diễn giải của Văn Hòe, từ trời sẽ được dùng để chỉ vị thế của Hoạn Thư. Sự nhìn nhận này ta thấy không hợp lí, bởi từ khi bước vào nhà họ Hoạn, mối quan hệ giữa Hoạn Thư và Kiều vốn đã cách biệt chủtớ rồi chứ đâu đợi đến bây giờ, khi xảy ra chuyện nàng mới nhận ra một vực, một trời. Còn chuyệnvợ cả vợ lẽ, phương diện pháp luật là như vậy, nhưng xét về cái lí, cái tình trong nhà họ Thúc, cho đến thời điểm này, chưa bao giờ Họan Thư được thông báo về mối quan hệ giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều thì sao gọi thế được. Qua phân tích, ta nhận thấy cách hiểu về câu thơ Bây giờ một vực, một trời chưa có sự thống nhất với ý kiến Văn Hòe.
Câu 2100:Không dưng chưa dễ mà bay đường trời
Khi việc Kiều lấy đồ thờ ở Quan Âm các bị phát giác, Giác Duyên nghĩ cách gửi Kiều sang lánh tạm ở nhà Bạc Bà. Tại đây, Kiều bị Bạc Bà đối xử rất thậm tệ:
Mụ càng xua đuổi cho liền
Lấy lời hung hiểm, ép duyên Châu Trần.
Rằng: “Nàng muôn dặm một thân,
Lại mang lấy tiếng dữ gần, lành xa.
Khéo oan gia của phá gia,
Còn ai dám chứa vào nhà nữa đây!
Kíp toan kiếm chốn xe dây,
Không dưng chưa dễ mà bay đường trời!...”
Tại nhà mình, Bạc Bà đã cởi bỏ cái lốt phật tử, hiện nguyên hình là kẻ cùng tổ bợm già với Tú Bà. Nhìn ra điểm bất lợi và ưu thế của Thúy Kiều, Bạc Bà dùng mưu mô xảo quyệt để kiếm lợi. Thúy Kiều trong tình trạng bị động, đang mắc kẹt giữa nhà Bạc Hạnh, nào bị xua đuổi cho liền, nào bị Lấy lời hung hiểm, ép duyên Châu Trần. Một mặt mụ uy hiếp tinh thần, một mặt mở cho nàng “lối thoát” theo cách bán buôn có lời của mụ. Kiều đang gặp phải nguy hiểm, buộc phải lựa chọn: Hoặc lối thoát do mụ sắp đặt, hoặc câu chuyện đồ thờ Quan Âm các bị phanh phui. Trong hoàn cảnh Kiều lúc này, cách nói Không dưng chưa dễ mà bay đường trời, đó là Bạc Bà ám chỉ sự bế tắc của nàng. Bởi thế, từ trời (đường trời) ở  đây chỉ ngõ cụt, không lối thoát chứ không dùng để chỉ bầu trời, không gian. Cách dùng này được phổ biến trong dân gian: có mà chạy đường trời, chạy trời không khỏi nắng…
Câu 2171: Đội trời, đạp đất ở đời
Nguyễn Du đã dựng bức chân dung Từ Hải mang vẻ đẹp khí phách người anh hùng bằng những câu thơ phóng khoáng:
Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.
Đội trời đạp đất ở đời
Họ Từ, tên Hải, vốn người Việt Đông.
Giang hồ quen thú vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
Hình tượng nhân vật Từ Hải xuất hiện trong Truyện Kiều được Nguyễn Du xây dựng bằng những câu thơ lãng mạn đã gây ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc. Bằng những câu thơ miêu tả vẻ đẹp Từ Hải, người đọc nhận ra dũng khí của chàng toát lên ở tư thế đội trời, đạp đất. Từ hình ảnh thơ mang tính biểu tượng, ta nhận thấy sự ngang nhiên, khả năng vùng vẫy của người anh hùng trong việc xây nghiệp lớn. Bởi thế, trong câu thơ Đội trời đạp đất ở đời, từ trời không thể tách ra dùng chỉ bầu trời, không gian, mà nó phải nằm trong kết hợp từ chặt chẽ đội trời đạp đất để chỉ tư thế, khí phách con người đó giữa không gian, đó là khả năng tung hoành của người anh hùng ở bất cứ đâu.
Câu 2248:Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm
Những ngày xa cách Từ Hải, lòng Kiều ngổn ngang tâm trạng:
Tấc lòng cố quốc tha hương,
Đường kia, nỗi nọ ngổn ngang bời bời.
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.
Sống trong sự trống trải Đêm thâu đằng đẵng nhặt cài then mây, Kiều thả hồn mình về quê hương và người chồng nơi chiến trận. Dõi theo mỗi bước chân Từ Hải, Kiều sống trong hi vọng (Cánh hồng bay bổng tuyệt vời), nhớ nhung, chờ đợi (Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm). Vì thế, từ trời (phương trời) trong câu thơ này không dùng để chỉ bầu trời, không gian mà chỉ địa điểm, vị trí nơi Từ Hải đến trong những ngày xa cách Kiều.
Câu 2251: Ngất trời, sát khí mơ màng
Chung sống với nhau một thời gian, Từ Hải Quyết lời dứt áo ra đi. Một mình đơn chiếc, Kiều âm thầm chờ đợi. Một thời gian sau chàng đã trở về Làm cho rõ mặt phi thường, đúng như lời hứa ngày ra đi:
Đêm ngày luống những âm thầm,
Lửa binh đâu đã ầm ầm một phương.
Ngất trời, sát khí mơ màng,
Đầy sông kình ngạc, chật đường giáp binh.
Từ những hình ảnh thơ trên, ta đủ thấy thế lực quân sự của Từ Hải lúc này rất lớn. Cụm từ ngất trời này gắn với hình ảnh lửa binhsát khí mơ màng,đầy sông kình ngạc, chật đường giáp binh nhằm chỉ tính chất hùng mạnh của Từ Hải. Vì thế, từ trời không thể tách ra, phải nằm trong tổ hợp từ ngất trời để miêu tả không gian binh khí đầy tính uy hiếp của Từ Hải.
Câu 2381: Nàng rằng: Lồng lộng trời cao
Có Từ Hải yêu chiều, Kiều thỏa thích thực hiện những mong muốn của mình. Một chặng đường dàiThanh lâu hai lượt, thanh y hai lần, giờ đây dựa vào thế lực Từ Hải, Kiều đang ra tay với những kẻ đã từng làm nàng đau đớn. Sau đây là những lời tuyên án của Kiều trước khi màn báo oán xảy ra:
Nàng rằng: “Lồng lộng trời cao!
Hại nhân, nhân hại, sự nào tại ta!
Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà
Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh,
Tú Bà cùng Mã Giám Sinh,
Các tên tội ấy đáng tình còn sao?”
Lệnh quân truyền xuống nội đao
Thề sao thì lại cứ sao gia hình.
Màn báo oán diễn ra tàn khốc, nhưng với Kiều, nàng coi như việc này xảy ra là hợp lẽ bởi hai lí do nghe ra rất chính đáng. Thứ nhất, Hại nhân, nhân hại, sự nào tại ta!, có nghĩa là nàng lấy sự công bằng làm chuẩn mực. Thứ hai, Thề sao thì lại cứ sao gia hình, nàng dựa vào lời thề thốt của tội nhân khi lừa nàng để coi đó làm căn cứ hành quyết. Bởi thế, Kiều cho rằng trời cao sẽ soi xét, xử phạt mọi hành vi của con người nơi trần gian theo luật nhân quả. Vì vậy, từ trời trong câu thơ Nàng rằng: “Lồng lộng trời cao!” được dùng với nghĩa đạo trời. Tuy nhiên, xét ở góc độ Phật giáo thì cách xử phạt của nàng đối với các tội nhân như thế chứng tỏ nàng không hề giác ngộ, khi mà Kiều là người đã từng bước vào cửa chùa, thông thạo kinh sách.
Câu 2426: Dễ đem gan óc đền nghì trời mây
Thỏa mãn với màn báo oán, Thúy Kiều bày tỏ nỗi lòng mình với Từ Hải:
Nàng từ ân oán rạch ròi,
Bể oan dường đã vơi vơi cạnh lòng.
Tạ ân, lạy trước Từ công:
 “Chút thân bồ liễu, nào mong có rày!
Trộm nhờ sấm sét ra tay,
Tấc riêng như cất gánh rầy đổ đi
Khắc xương ghi dạ, xiết chi
Dễ đem gan óc, đền nghì trời mây!”
Qua lời tạ ân, ta nhận thấy Kiều biết ơn Từ Hải đã tạo điều kiện để nàng thỏa mãn sự khao khát trả thù bấy lâu. Chính điều này đã làm Kiều hả dạ, bày tỏ tấm chân tình Dễ đem gan óc, đền nghì trời mây!. Kiều đã rất đề cao vai trò Từ Hải, muốn thể hiện sự đền đáp trước công ơn như trời mây của chàng. Hiểu tấm lòng tri kỷ dành cho mình, chàng đã đáp lại:
Từ rằng: “Quốc sĩ xưa nay
Chọn người tri kỷ một ngày được chăng?
Anh hùng tiếng đã gọi rằng:
Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha!
Huống chi việc cũng việc nhà
Lọ là thâm tạ mới là tri ân”
Qua cuộc đối thoại này, ta thấy từ trời mây được Kiều dùng để chỉ công ơn to lớn của Từ Hải trong việc giúp nàng báo ân, báo oán. Và như vậy, từ trời trong câu Dễ đem gan óc, đền nghì trời mây không thể tách ra thành từ đơn mà nó phải nằm trong từ ghép trời mây thì mới hiểu đúng nội dung biểu đạt trong ngữ cảnh giao tiếp giữa Kiều và Từ Hải.
Câu 2441: Triều đình riêng một góc trời
Thế mạnh của Từ Hải được Nguyễn Du diễn tả:
Triều đình riêng một góc trời
Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà.
Đòi phen gió quét mưa sa,
Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam.
Phong trần mài một lưỡi gươm,
Những loài giá áo, túi cơm sá gì!
Nghênh ngang một cõi biên thùy,
Thiếu gì cô quả, thiếu gì bá vương!
Trước cờ ai dám tranh cường,
Năm năm hùng cứ một phương hải tần.
Với ưu thế Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài và thú vẫy vùng của mình, Từ Hải đã rạch đôi sơn hà, lập nên một triều đình đối nghịch và bình đẳng với triều đình chính thống. Vì thế, trong câu thơ Triều đình riêng một góc trời thì góc trời được dùng để chỉ cõi riêng của Từ Hải, tồn tại song song với triều Minh lúc bấy giờ. Vì vậy, từ trời phải đặt trong câu thơ thì mới có một cách hiểu trọn vẹn.
Câu 2471: Chọc trời, khuấy nước mặc dầu
Khi Hồ Tôn Hiến bắt đầu làm chước chiêu an, Từ Hải không khỏi đắn đo, lưỡng lự:
Tin vào gửi trước trung quân
Từ công riêng hãy mười phân hồ đồ.
Một tay gây dựng cơ đồ
Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành!
Bó thân về với triều đình,
Hàng thân lơ láo, phận mình ra đâu?
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau,
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi?
Sao bằng riêng một biên thùy,
Sức này đã dễ làm gì được nhau?
Chọc trời, khuấy nước mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai?
Một người đã từng “Một tay gây dựng cơ đồ/ Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành”, vì thế không dễ gì phút chốc trao một nửa “sơn hà” cho triều đình... Với lí lẽ, lập luận vấn đề một cách có căn cứ “Sức này, đã dễ làm gì được nhau”, trong tư thế độc lập “Sao bằng riêng một biên thùy”, Từ Hải đã quyết định không đầu hàng… Một người có tài năng “Đường đường một đấng anh hào/ Côn quyền hợp sức, lược thao gồm tài”; cũng như dũng khí “Trước cờ ai dám tranh cường/ Năm năm hùng cứ một phương hải tần” (Cách hành xử của những người ở phương diện quốc gia, trích trong sách “Truyện Kiều”, chưa xong điều nghĩ…, NXB Hội nhà văn, năm 2016, trang 99)chàng thể hiện tư thế của mình:
Chọc trời, khuấy nước mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai?
Qua hai câu thơ trên, ta nhận thấy Từ Hải có một tư thế ngạo nghễ, bất khuất, sẵn sàng chống lại mọi thế lực. Hình ảnh thơ chọc trời, khuấy nước đã diễn tả hành động ngang tàng của kẻ Giang hồ quen thú vẫy vùng. Vì thế, trong tổ hợp từchọc trời, khuấy nước thì từ trời không thể tách ra để hiểu theo nghĩa chỉ bầu trời, không gian mà nó phải nằm trong liên kết từ ấy thì mới biểu đạt ý đồ của tác giả trong việc xây dựng hình tượng người anh hùng.
Câu 2524:Ầm ầm sát khí, ngất trời ai đang
Câu thơ này nằm trong đoạn kể quân Hồ Tôn Hiến truy sát Từ Hải:
Quan quân truy sát đuổi dài,
Ầm ầm sát khí, ngất trời ai đang.
Cụm từ ngất trời trong câu này giống như trong câu 2251, đều chỉ thế mạnh quân sự (Hồ Tôn Hiến).
Câu  2550:Dọc ngang trời rộng, vẫy vùng bể khơi!
Câu 2555: Năm năm trời biển ngang tàng
(Hai câu này từ trời được dùng tương tự nhau, nên chỉ phân tích câu 2555)
Trúng kế Hồ Tôn Hiến, Từ Hải chết, Kiều bị Đem vào đến trước trung quân. Trước mặt Hồ Tôn Hiến, Kiều bày tỏ:
Rằng: “Từ là đấng anh hùng,
Dọc ngang trời rộng, vẫy vùng bể khơi!
Tin tôi, nên quá nghe lời
Đem thân bách chiến làm tôi triều đình.
Ngỡ là phu quý, phụ vinh,
Ai ngờ một phút tan tành thịt xương!
Năm năm trời bể ngang tàng,
Đem mình đi bỏ chiến trường như không…”
Dù cơ đồ Từ Hải tan tành khói mây, nhưng trong lòng Kiều, chàng thực sự là đấng anh hùng. Dù ở điểm nhìn nào, khí phách của kẻ Giang hồ quen thú vẫy vùng luôn được tác giả thể hiện đúng bản chất của nó. Bởi thế, khi Kiều nhận xét Dọc ngang trời rộng, vẫy vùng bể khơi, hay Năm năm trời biển ngang tàng, thì trời rộng hay trời bể đều được dùng để chỉ không gian vẫy vùng, tung hoành ngang dọc của Từ Hải. Trong trường hợp này, từ trời phải nằm trong kết hợp từ trời rộngtrời bể thì mới diễn tả được ý đồ sử dụng từ của tác giả.
Câu 2607: Chân trời, mặt biển lênh đênh
Khi Kiều bị Hồ Tôn Hiến Ép tình mới gán cho người thổ quan, trên sông Tiền Đường, nàng đã rất cay đắng, hoang mang:
Nàng càng ủ liễu phai đào,
Trăm phần nào có phần nào phần tươi?
Đành thân cát lấp sóng vùi,
Cướp công cha mẹ thiệt đời thông minh!
Chân trời mặt biển lênh đênh,
Nắm xương biết gửi tử sinh chốn nào!...
Với Kiều, nàng nghĩ lúc này không có một cơ sở nào để định hướng cho chặng đường tiếp theo của mình. Bởi thế, Chân trời mặt biển là tổ hợp từ chỉ bước chân nơi Kiều đến, địa điểm không xác định. Như vậy, trong ngữ cảnh này, từ trời không thể tách ra để hiểu theo nghĩa bầu trời, không gian.
Câu 2763:Điều đâu sét đánh lưng trời
Câu thơ này nằm trong mạch kể Kim Trọng từ Liêu Dương trở về tìm Kiều. Nhờ láng giềng, chàng mới hỏi được sự tình:
Hỏi ông, ông mắc tụng đình,
Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha.
Hỏi nhà, nhà đã dời xa,
Hỏi chàng Vương với cùng là Thúy Vân.
Đều là sa sút khó khăn,
May thuê, viết mướn, kiếm ăn lần hồi.
Điều đâu sét đánh lưng trời,
Thoắt nghe, chàng thoắt rụng rời xiết bao!
Oan gia xảy ra, Kiều quyết định bán mình để chuộc cha và em. Quay lại tìm người yêu, Kim Trọng choáng váng, bàng hoàng trước gia cảnh của Kiều. Sự việc quá bất ngờ, nhà Vương ông không kịp trở tay. Điều đâu sét đánh lưng trời, hung tin đã làm chàng Kim rụng rời. Trong ngữ cảnh này ta có thể hiểu, cụm từ sét đánh lưng trời biểu đạt nội dung: tai họa bất ngờ xảy ra đáng sợ, cảnh gia đình họ Vương tan tác, tình yêu Kim - Kiều đứt đoạn.
Câu 2830: Mênh mông nào biết biển trời nơi nao
Trở lại Bắc Kinh, hay tin Kiều bán mình chuộc cha, Kim Trọng đã ra tay hành động tìm kiếm nàng:
Đinh ninh mài lệ chép thư,
Cắt người tìm tõi, đưa tờ nhắn nhe.
Biết bao công mướn của thuê,
Lâm Thanh mấy độ đi về dặm khơi.
Người một nơi, hỏi một nơi,
Mênh mông nào biết biển trời nơi nao?
Dẫu không trực tiếp, quyết liệt, “lao tâm khổ tứ” tìm người yêu, nhưng những hành động của Kim trọng cho thấy chàng không hề thờ ơ trên bước đường lưu lạc của Thúy Kiều. Bởi tin vào lời Mã Giám Sinh, lấy địa chỉ Lâm Thanh làm căn cứ nên cuộc tìm kiếm Kiều ngày càng trở nên vô vọngNgười một nơi, hỏi một nơi/ Mênh mông nào biết biển trời nơi nao?. Không biết Kiều đang ở chân trời, góc biển nào để chàng Kim đến nỗi lâm vào tình trạng Máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao, trông thảm thương đến thế. Trong ngữ cảnh này, từ ghép biển trời nhằm chỉ nơi Kiều ở, không có điểm xác định.Với cách biểu đạt ấy, ta có thể coi từ ghép biển trời trong câuMênh mông nào biết biển trời nơi nao? được dùng để định vị vị trí (chỗ ở) nào đó của Kiều, không có điểm xác định.
Câu 2943:Nghĩ điều trời thẳm, vực sâu
Dù có manh mốivề Kiều, nhưng thái độ Kim Trọng rất lưỡng lự trong việc tìm kiếm người yêu:
Rắp mong treo ấn từ quan,
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng pha.
Giấn mình trong áng can qua,
Vào sinh ra tử họa là thấy nhau.
Nghĩ điều trời thẳm vực sâu,
Bóng chim tăm cá, biết đâu mà nhìn!
Vẫn nghĩ đến Kiều, nhưng hẳn cảm xúc Kim Trọng không còn nóng bỏng. Có lẽ thế mà chàng Kim vin vào yếu tố khách quan trời thẳm vực sâubóng chim tăm cá để chùn bước trong việc tìm kiếm Kiều. Chưa tìm sao lại cho là như thế được, khi mà dấu vết cuối cùng (Từ Hải, nhân vật nổi tiếng) ai cũng có thể biết. Dù rằng chặng đường vô cùng khó khăn (trời thẳm vực sâu), tung tích khó lần (bóng chim tăm cá), nhưng không phải hoàn toàn bế tắc. Như thế, xét trong ngữ cảnh này, cụm từ  trời thẳm vực sâu chỉ con đường đi tìm Kiều (trong suy nghĩ của Kim Trọng) sẽ đầy chông gai. Vì thế, từ trời cũng không tách ra khỏi kết cấu này để chỉ một nội dung khác.
Câu 3166: Bỗng không cá nước, chim trời lỡ nhau
Trong màn đoàn viên, trước sự day dứt của Thúy Kiều, Kim Trọng như muốn giải tỏa nỗi niềm của người yêu:
Chàng rằng: “Gắn bó một lời,
Bỗng không cá nước, chim trời lỡ nhau.
Xót người lưu lạc bấy lâu
Tưởng thề thốt nặng nên đau đớn nhiều
Thương nhau sinh tử đã liều
Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình”
Kim Trọng hiểu hoàn cảnh của Kiều, khi một lời thốt ra từ ý thức chủ quan Đã nguyền hai chữ “đồng tâm”, vậy nhưng gặp hoàn cảnh khách quan khó bề lựa chọn Bên tình, bên hiếu bên nào nặng hơn. Do tai ương xảy ra trong gia đình, đưa tình yêu Kim - Kiều vào chỗ bế tắc, thành ra nông nỗiBỗng không cá nước, chim trời lỡ nhau. Gia cảnh éo le, tình yêu Thúy Kiều và Kim Trọng không còn cơ hội (cá nước, chim trời), lỡ một chuyến đò tình, lỡ một thời thanh xuân của đôi “trai tài, gái sắc”. Hình ảnh thơ cá nước, chim trời đầy tính biểu tượng, gợi sự liên tưởng về sự chia li của Kiều và Kim Trọng khó lòng gặp lại. Vì thế Trời còn để có hôm nay, ngày gặp lại đủ cho một niềm tin của Kim Trọng đối với Kiều. Từ hình ảnh thơ cá nước, chim trời là cách Nguyễn Du dùng lối ẩn dụ chỉ Kiều và Kim Trọng. Vậy nên, từ trời trong câu thơ Bỗng không cá nước, chim trời lỡ nhau không thể tách ra (chim/trời) mà phải đặt trong tổ hợp từ cá nước, chim trời để hiểu.
Về từ trời, đối chiếu cách phân tích với việc chia theo nhóm trong Từ điển Truyện Kiều, ta thấy tác giả không dùng để chỉ bầu trời, không gian. Qua phân tích từ trời ở nhiều ngữ cảnh khác nhau, một điều dễ nhận thấy là cụ Nguyễn Du đã rất tài tình trong việc đa dạng hóa ngôn ngữ, tạo sự hấp dẫn khi tìm hiểu cách dùng từ trong Truyện Kiều.
3.1.3. Nhóm chỉ thời tiết, thời gian
Phân tích nghĩa từ trời trong các câu  289, 1777 (thuộc nhóm chỉ thời tiết, thời gian) để xem của Nguyễn Du đã dùng với mục đích gì?
Câu 289:Cách tường phải buổi êm trời
Mong muốn gặp lại Thúy Kiều, Kim Trọng dùng sách lược Lấy điều du học hỏi thuê (nhà Ngô Việt thương gia) để có cơ hội gặp nàng. Chàng Kim mong ngóng từng ngày:
Song hồ nửa khép cánh mây,
Tường đông ghé mắt, ngày ngày hằng trông.
Tấc gang động khóa nguồn phong,
Tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra.
Nhẫn từ quán khách lân la,
Tuần trăng thấm thoắt nay đà thêm hai.
Cách tường phải buổi êm trời,
Dưới đào dường có bóng người thướt tha.
Buông cầm, xốc áo, vội ra,
Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh!
Sau buổi đầu gặp gỡ, phải nói rằng Kim Trọng đã rất công phu trong việc tìm gặp Thúy Kiều. Nếu không nhẫn thì chàng Kim khó lòng gặp người chỉ biết sống trong khuôn phép Êm đềm trướng rủ màn che/Tường đông ong bướm đi về mặc ai. Có công đến thế nhưng khi Tuần trăng thấm thoắt nay đà thêm hai Kim Trọng cũng đâu gặp được người mong nhớ, chỉ mơ hồ (dường)có bóng người thướt tha mà thôi. Dù như thế, nhưng Kim Trọng vẫn xem đó là buổi đánh dấu mốc buổi đầu tiên - buổi êm trời, coi như chàng được gặp Kiều. Vì lẽ đó, buổi êm trời trong ngữ cảnh này không dùng để chỉ thời tiết, mà diễn tả nội dung: Kim Trọng có cảm giác vui, may mắn khi kịp/dường nhận ra sự xuất hiện của Kiều.
Câu 1777: Phải đêm êm ả chiều trời
Trong âm mưu sắp đặt của Hoạn Thư, đã đến lúc phải chuyển Kiều từ phủ Hoạn Bà về nhà mình:
“Tiểu thư dưới trướng thiếu người,
Cho về bên ấy theo đòi lầu trang”
Lĩnh lời nàng mới theo sang,
Biết đâu địa ngục, thiên đàng là đâu!
Sớm khuya khăn mặt, lược đầu
Phận con hầu, giữ con hầu, dám sai!
Phải đêm yên ả chiều trời,
Trúc tơ, hỏi đến nghề chơi mọi ngày.
Lĩnh lời nàng mới lựa dây,
Nỉ non, thánh thót, dễ say lòng người!
Tiểu thư xem cũng thương tài,
Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân.
Từ trời trong câu Phải đêm êm ả chiều trời có thể đưa ra nhiều cách hiểu. Cách hiểu thứ nhất, từ trời có thể chỉ Hoạn Thư. Bởi từ khi chuyển từ phủ họ Hoạn sang tư gia Hoạn Thư, Kiều một lòng hầu hạ chủ đến nơi, đến chốn, vì thế việc Kiều hầu Hoạn Thư được coi như hầu trời vậy. Nhưng cách hiểu này có vẻ khiên cưỡng, khó thuyết phục, khi mà trong ngôn ngữ trần thuật, ở ngôi thứ ba, không ai gọi một người cụ thể là Trời cả, dù nhân vật thì có thể nói: bà là Trời.
Cách hiểu thứ hai, từ trời được coi là công việc Kiều làm để chiều chuộng hầu hạ Hoạn Thư rất to lớn, ví như trời. Đó là cách hiểu theo nghĩa ẩn dụ như dân gian vẫn hay dùng để chỉ một cái gì đó lớn lao. Ví như chỉ công lao to lớn của người mẹ, ca dao đã viết:Nghĩa mẹ bằng trời; khen hiệu quả công việc một người nào đó cũng được dùng: làm được như thế là quá trời rồi… Nhưng xem ra cách hiểu này cũng khiên cưỡng, bởi việc Kiều hết sức hầu hạ tiểu thư là cả một quá trình của Phận con hầu, giữ con hầu, dám sai!, chứ đâu phải chỉ trong đêm yên ả ấy.
Cách hiểu thứ ba, từ trời trong ngữ cảnh này được dùng để chỉ không gian. Như ta đã biết, ở nhà Hoạn Thư, Kiều đã thể hiện đúng bổn phận mình trong vaiSớm khuya khăn mặt,lược đầu/ Phận con hầu, giữ con hầu, dám sai!. Tạo ra không gian hoạt động như thế, tác giả giúp ta hình dung Kiều đã hết sức mình với công việc hầu hạ tiểu thư. Nút thắt bi kịch về hai thân phận đối lập, ưu thế đang thuộc về Hoạn Thư, vậy nhưng Kiều vẫn được chủ mở cho một cơ hội để thể hiện tài năng Trúc tơ, hỏi đến nghề chơi mọi ngày. Tại sao Kiều có cơ hội ấy? Nếu Kiều không hết lòng vì chủ, liệu Hoạn Thư có chủ động mở lời để tạo nên không gian giao tiếp gần gũi như vậy hay không? Nếu Hoạn Thư không phải là người hiểu biết, đáng ngợi ca (Hoạn Thư, nết ăn ở và lí lẽ, trích trong sách “Truyện Kiều”, chưa xong điều nghĩ…, Nhà xuất bản Hội nhà văn, năm 2016, trang 66), thì trong hoàn cảnh cay đắng về bi kịch hôn nhân của mình, nàng đã chẳng tìm mọi cách để uy hiếp tinh thần Kiều hay sao? Xây dựng một không gian giao tiếp như vậy, tác giả cho ta thấy kết quả mối quan hệ chủ – tớ ấy là do sự tương tác từ hai phía. Bởi thế, trong thời gian và không gian Phải đêm êm ả chiều trời ấy, phải chăng là lúc sự trắc ẩn, tình thương của tiểu thư đang dậy lên trước số phận một con người vì hoàn cảnh bất đắc dĩ mà liên lụy đến mình. Với bối cảnh xuất hiện của từ trời ở câu này như thế, vậy nên ta có thể hiểu từ trời ở  đây nhằm chỉ không gian. Trong ba cách hiểu về từ trời như đã nêu trên, có lẽ cách hiểu thứ ba có sức thuyết phục hơn cả.
Tìm hiểu từ trời trong hai câu thơ 289, 1777, ta thấy ý đồ của Nguyễn Du khi dùng từ này không phải chỉ thời tiết, thời gian theo như cách cụ Đào Duy Anh đã chia nhóm. Ở đây, mỗi từ trời được Nguyễn Du dùng theo một cách riêng, đầy ẩn ý.
3.1.4. Nhóm chỉ chỉ vùng trời, miền đất ở vùng trời ấy
Câu 703 có từ trời được dùng theo nghĩa hàm ý, trùng với cách hiểu của Đào Duy Anh.
Câu 703:Trời Liêu non nước bao xa
Trời Liêu: chỉ đất Liêu Dương (Từ điển “Truyện Kiều”, Đào Duy Anh, trang 421)
3.2. Phân tích nghĩa từ “trời” trong những câu chưa được liệt kê trong Từ điển Truyện Kiều
Các câu trong phần này chứa từ trời có nghĩa hàm ý: 1030, 1346, 1514, 3049
Câu 1030:Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi
Khi biết mình bị Mã Giám Sinh lừa, Kiều rút dao tự vẫn. Tú Bà sợ mất vốn, nghĩ ra mưu chước lừa Kiều Khóa buồng xuân để đợi ngày đào non. Trước sự hoài nghi của Kiều, Tú Bà trở giọng “ngọt lạt”:
Mụ rằng: “Con hãy thong dong,
Phải điều lòng lại dối lòng mà chơi!
Mai sau ở chẳng như lời.
Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi”
Trước khi đưa Kiều ra lầu Ngưng Bích, Tú Bà thề thốt đủ điều. Mụ khẳng định, nếu làm không đúng lời mụ nói hôm nay, mai sau mụ sẽ bị bóng mặt trời rạng soi, có nghĩa sẽ bị nhân quả báo ứng. Mặt trời rạng soi, ấy chính là cán cân công lí xử phạt nghiêm minh. Như thế, ở ngữ cảnh này, mặt trời được hiểu là nhân quả, công lí. Tất nhiên, với loại người như Tú Bà thì không thể lấy điều này làm căn cứ. Nhưng trong tình huống này, ta xét cách mụ biết vận dụng nó để lừa gạt Kiều.
Câu 1346:Thân sau ai chịu tội trời ấy cho
Khi Thúc Sinh biết Kiều không phải Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra (Con Tú Bà), chàng dò tính Trăm năm tính cuộc vuông tròn. Trước ý định của Thúc Sinh, Kiều lo lường trước mọi việc:
Nàng rằng: “Muôn đội ơn lòng.
Chút e bên thú, bên tòng dễ đâu.
Bình khang nấn ná bấy lâu
Yêu hoa, yêu được mấy màu điểm trang.
Rồi ra lạt phấn phai hương,
Lòng kia giữ được thường thường mãi chăng?
Vả trong thềm quế, cung trăng
Chủ trương đành đã chị Hằng ở trong
Bấy lâu khăng khít giải đồng,
Thêm người, người cũng cha lòng riêng tây.
Vẻ chi chút phận bèo mây,
Làm cho bể ái khi đầy khi vơi.
Trăm điều nghiêng ngửa vì tôi,
Thân sau ai chịu tội trời ấy cho?...”
Chấp nhận lấy Thúc Sinh, Kiều đã nhìn trước được hiểm họa. Đó là liệu Thúc Sinh có chung thủy với nàng, rồi việc vượt mặt Hoạn Thư là phạm vào gia pháp, việc nàng là gái lầu xanh thì sao không làm mất uy danh nòi thư hương… Như thế, tội ấy suy cho cùng rất to. Thân sau ai chịu tội trời ấy cho, không ai khác, tội bằng trời ấy nàng ắt phải gánh chịu. Ở trường hợp này, kết hợp từ tội trời được dùng để chỉ tội to bằng trời, không kể hết.
Câu 1514: Lại mang những việc tày trời đến sau
Trong câu này, từ tày trời cũng được dùng tương tự câu 1346, chỉ việc xảy ra to tát  không kể xiết.
Câu 3049: Trùng sinh ân nặng biển trời 
Gia đình Vương ông đến Thảo am đón Kiều, nàng không muốn về vì nhiều lẽ. Trong đó, có một lí do nàng rất quan tâm:
Trùng sinh ân nặng biển trời,
Lòng nào nỡ dứt nghĩa người ra đi?
Từng chặng đường lưu lạc của Kiều, nhờ cơ duyên, hai lần nàng được chung sống cùng Giác Duyên. Có thể Giác Duyên chưa thực sự là điểm tựa tinh thần của Kiều đúng nghĩa, nhưng sư đã cứu được thân xác nàng khi nàng tự tử ở sông Tiền Đường. Ơn nghĩa đối với sư Giác Duyên nặng như biển trời, vậy sao nàng có thể dứt áo ra đi được. Vì thế, trong câu thơ này, từ biển trời dùng chỉ công ơn rất đỗi lớn lao của Giác Duyên dành cho Kiều.
4.Qua tìm hiểu từ trời trongTruyện Kiều, ta thấy cách sử dụng của Nguyễn Du trong từng tình huống giao tiếp rất linh hoạt. Tạo nên từ nghĩa gốc, nghĩa phái sinh, Nguyễn Du đã làm nên sự phong phú, đa dạng của ngôn ngữ, đem lại hiệu quả cao trong biểu đạt nội dung của tác phẩm văn chương. Không chỉ trong tác phẩm văn chương mà trong đời sống, từ trời cũng được dân gian sử dụng rộng rãi, thiên hình vạn trạng: thằng trời đánh, có mà chạy đằng trời, một trời cả mà, trời bên này nó khác, chạy trời không khỏi nắng… Không riêng từ trời, mà đa số từ trong tiếng Việt đều có sự phái sinh về nghĩa để tạo ra những từ mới. Sự phát triển của ngôn ngữ là một dấu hiệu tích cực làm nên sự giàu có của tiếng Việt. Có sự giàu có về hình thức, như thế chưa đủ, ta phải biết làm giàu có về nội dung mới tạo sự tương thích trong quá trình phát triển của nó. Trong lĩnh vực ngôn ngữ nói chung, ngôn ngữ văn chương nói riêng, khi một từ mới nảy sinh, muốn hiểu giá trị biểu đạt của nó một cách trọn vẹn ta phải nắm bắt được ngọn ngành bối cảnh giao tiếp. Vì thế, việc lí giải từ trong tác phẩm văn học không phải là một vấn đề cứng nhắc, dựa theo nghĩa gốc mà phải hiểu lí do vì sao từ đó xuất hiện, như vốn dĩ nó đã rất uyển chuyển từ cách sử dụng tinh tế của nhà văn khi sáng tạo nghệ thuật.

Dienstag, 5. November 2019

TÔI ĐI HỌC

TÔI ĐI HỌC
Truyện Ngắn THANH TỊNH

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.
Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.
Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.
Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.
Tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quý và không ra đồng nô hò như thằng Sơn nữa.
Trong chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn.
Dọc đường tôi thấy mấy cậu nhỏ trạc bằng tôi, áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem mà tôi thèm. Hai quyển vở mới đang ở trên tay tôi đã bắt đầu thấy nặng. Tôi bặm tay ghì thật chặt, nhưng một quyển vở cũng chì ra và chênh đầu chúi xuống đất. Tôi xóc lên và nắm lại cẩn thận. Mấy cậu đi trước o sách vở thiệt nhiều lại kèm cả bút thước nữa. Nhưng mấy cậu không để lộ vẻ khó khăn gì hết.
Tôi muốn thử sức mình nên nhìn mẹ tôi:
– Mẹ đưa bút thước cho con cầm.
Mẹ tôi cúi đầu nhìn tôi với cặp mắt thật âu yếm:
– Thôi để mẹ nắm cũng được.
Tôi có ngay cái ý kiến vừa non nớt vừa ngây thơ này: chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước.
Ý nghĩ thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi.
Trước sân trường làng Mỹ Lý đầy đặc cả người. Người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt cũng vui tươi và sáng sủa.
Trước đó mấy hôm, lúc đi ngang làng Hòa An bẫy chim quyên với thằng Minh, tôi có ghé trường một lần.
Lần ấy trường đối với tôi là một nơi xa lạ. Tôi đi chung quanh các lớp để nhìn qua cửa kính mấy bản đồ treo trên tường. Tôi không có cảm tưởng gì khác là nhà trường cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng.
Nhưng lần này lại khác. Trước mặt tôi, trường Mỹ Lý vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình Hòa Ấp. Sân nó rộng, mình nó cao hơn những buổi trưa hè đầy vắng lặng. Lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ.
Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bở ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nữa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ.
Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi, mấy người học trò cũ đến sắp hàng dưới hiên rồi đi vào lớp. Chung quanh những cậu bé vụng về lúng túng như tôi cả. Các cậu không đi. Các cậu chỉ theo sức mạnh kéo dìu các cậu tới trước. Nói các cậu không đứng lại càng đúng hơn nữa. Vì hai chân các cậu cứ dềnh dàng mãi. Hết co lên một chân, các cậu lại duỗi mạnh như đá một quả banh tưởng tượng. Chính lúc này toàn thân các cậu cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp.
Ông đốc trường Mỹ Lý cho gọi mấy cậu học trò mới đứng lên trước lớp ba. Trường làng nhỏ nên không có phòng riêng của ông đốc. Trong lúc ông đọc tên từng người, tôi cảm thấy như quả tim tôi ngừng đập. Tôi quên cả mẹ tôi đang đứng sau tôi. Nghe gọi đến tên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng. Sau khi đọc xong mấy mươi tên đã viết sẵn trên mảnh giấy lớn, ông đốc nhìn chúng tôi nói sẽ:
– Thế là các em đã vào lớp năm. Các em phải cố gắng học để thầy mẹ được vui lòng, và để thầy dạy chúng em được sung sướng. Các em đã nghe chưa? (Các em đều nghe nhưng không em nào dám trả lời. Cũng may đã có tiếng dạ rang của phụ huynh đáp lại).
Ông đốc nhìn chúng tôi với cặp mắt hiền từ và cảm động. Mấy cậu học trò lớp ba cũng đua nhau quay đầu nhìn ra. Và ngoài đường cũng có mấy người đứng dừng lại để nhìn vào. Trong những phút giây này chúng tôi được người ta ngắm nhìn nhiều hơn hết. Vì vậy đã lúng túng chúng tôi càng lúng túng hơn.
Ông đốc lấy cặp kính trắng xuống rồi nói:
– Thôi, các em đứng đây sắp hàng để vào lớp học.
Tôi cảm thấy sau lưng tôi có một bàn tay dịu dàng đẩy tôi tới trước. Nhưng người tôi lúc ấy tự nhiên thấy nặng nề một cách lạ. Không giữ được chéo áo hay cáng tay của người thân, vài ba cậu đã từ từ bước lên đứng dưới hiên lớp. Các cậu lủng lẻo nhìn ra sân, nơi mà những người thân đang nhìn các cậu với cặp mắt lưu luyến. Một cậu đứng đầu ôm mặt khóc. Tôi bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ tôi nức nở khóc theo. Tôi nghe sau lưng tôi, trong đám học trò mới, vài tiếng thút thít đang ngập ngừng trong cổ. Một bàn tay quen nhẹ vuốt mái tóc tôi.
Ông đốc nhẫn nại chờ chúng tôi.
– Các em đừng khóc. Trưa này các em được về nhà cơ mà. Và ngày mai các em lại được nghỉ cả ngày nữa.
Sau khi thấy hai mươi tám cậu học trò sắp hàng đều đặn dưới hiên trường, ông đốc liền ra dấu cho chúng tôi vào lớp năm. Một thầy trẻ tuổi, gương mặt hiền từ, đang đón chúng tôi vào cửa lớp. Trong thời thơ ấu tôi chưa bao giờ xa mẹ tôi như lần này. Tôi cũng lấy làm lạ vì có nhũng hôm đi chơi suốt cả ngày với chúng bạn ở đồng làng Lệ Xá, lòng tôi vẫn không cảm thấy xa nhà hay xa mẹ tôi chút nào hết.
Một mùi hương lạ xông lên trong lớp. Trông hình gì treo trên tường tôi cũng thấy lạ và hay hay. Tôi nhìn bàn ghế chỗ tôi ngồi rất cẩn thận rồi tự nhiên nhận là vật riêng của mình. Tôi nhìn người bạn tí hon ngồi bên tôi, một người bạn tôi chưa hề biết, nhưng lòng tôi vẫn không cảm thấy sự xa lạ chút nào. Sự quyến luyến ấy tự nhiên và bất ngờ quá đến tôi cũng không dám tin là có thật. Một con chim con liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao.
Tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo cánh chim. Một kỷ niệm cũ đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa bay trên bờ sông Viêm sống lại đầy dẫy trong trí tôi.
Nhưng những tiếng phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm bẩm đọc:
          Bài tập viết: Tôi đi học!


Sonntag, 27. Oktober 2019

Cuộc di cư 1954



Cuộc di cư 1954

di cu 54
Tháng 6 năm 1954 đúng 50 năm về trước, là lúc mọi người trong vùng kiểm soát của chính phủ Quốc Gia ở Bắc Việt cô cùng lo lắng và hoang mang sau khi cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Nhiều tin đồn trái ngược càng làm cho mọi người thêm sợ hãi. Khoảng 20 tháng 6, tại Nam Định và các tỉnh phụ cận, có tin đồn được lan truyền nhanh chóng nói rằng quân đội Pháp và quân đội Quốc Gia sẽ rút khỏi Nam Định và các tỉnh phía Nam Hà Nội. Từ hôm ấy, hàng loạt doanh trại được tháo gỡ vội vàng, xe vận tải quân sự chở vật liệu nặng bắt đầu theo nhau từ Bùi Chu, Ninh Bình, Thái Bình đổ về Nam Định cùng các xe cộ từ Nam Định nối nhau đi Hà Nội. Kho đạn Nam Định cho phá hàng loạt đạn súng cối và đạn pháo binh ở vùng đất hoang phía tây thành phố.
Bộ Tư Lệnh Pháp và chính quyền Bảo Đại không hề lên tiếng về tình hình tại Bắc Việt. Bộ Chỉ Huy Pháp tại Nam Định vẫn tiếp tục công việc chuẩn bị cuộc diễn binh hùng hậu vào ngày quốc khánh Pháp, 14 tháng 7 năm 1954 mà họ đã loan báo trước. Vào lúc này, đã có tin đồn ông Ngô Đình Diệm sẽ về nước làm thủ tướng. Những truyền đơn đầu tiên ký tên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia ủng hộ ông Diệm xuất hiện lác đác ở Nam Định.
di cu 54
Ba ngày cuối cùng phi cơ quân sự lên xuống liên tiếp. Khi đã chuyên chở gần hết vật dụng và người, trạm hàng không quân sự Nam Định bắt đầu cho mọi người tự do lên phi cơ C-47 còn trống nhiều chỗ để đi Hà Nội.
Nam Định bắt đầu hoảng hốt thực sự từ ngày 28 tháng 6 khi điện bị cắt. Thành phố tối mù. Nhiều người chen chúc mua vé xe hoặc thuê xe di tản về Hà Nội. Nam Định là nơi số doanh trại và binh lính dầy đặc nhất Việt Nam. Trước đó từ 9 giờ khuya là giờ giới nghiêm, thành phố vắng vẻ không một bóng người trên phố xá. Nay đột nhiên tất cả chìm trong không gian đen thui, nhưng lại cựa mình mạnh hơn trong bóng tối. Trên đường phố người ta đi lại đông đúc khác thường quá cả giờ giới nghiêm.
di cu 54
Đường phố Hà Nội, hình chụp vào tháng 7 năm 1954.
Gia đình tôi lúc ấy đang ở một căn cư xá công chức nơi mẹ tôi làm việc. Lúc 7 giờ sáng, một anh lính tống thư viên người Pháp vào sở đưa một giấy báo di chuyển, ghi đúng số người thuộc quyền sở này và gia đình nhân viên kể cả 4 gia đình ở cư xá. Tất cả mau lẹ tập trung đợi xe. Sau đó chừng 15 phút, một tiểu đội Bảo Chính Đoàn dẫn 4 xe vận tải trưng dụng của tư nhân đến nơi và cho biết đúng 8 giờ kém 15 mọi người phải có mặt đầy đủ trên xe.
Việc di tản có vẻ đã được chuẩn bị nhiều tuần lễ trước đó. Số người ngồi trên xe thoải mái rộng rãi vì không ai mang theo đồ đạc gì nhiều ngoài một vài chiếc valise và túi xách tay gọn nhẹ.
Lệnh di chuyển cho biết đoàn xe này phải qua trạm kiểm soát phía bắc hướng đi Phủ Lý-Hà Nội vào khoảng giờ nhất định mà tôi nhớ là sau 8 giờ và trước 8 giờ 10 phút. Lệnh này cũng cảnh cáo nếu xe nào đến sớm quá hay muộn quá theo giờ ấn định sẽ bị ủi ra khỏi mặt đường để tránh nhiễu loạn giao thông.
di cu 54
Hồi đó tôi còn là học trò. Vội vàng xếp quần áo, hình ảnh, giấy tờ cần thiết, cuống cuồng không biết phải mang theo gì và phải bỏ lại món nào. Lúc còn chừng 25 phút, tôi xin phép mẹ tôi chạy ra phố nói là để chào mấy thằng bạn. Cô ruột tôi , người nuôi nấng tôi từ nhỏ không chịu vì sợ tôi chậm trễ e sẽ kẹt lại. Nhưng mẹ tôi hiểu ý, mỉm cười can thiệp nói, “Chị cứ cho nó đi, nó không dám về muộn đâu.”
Mẹ tôi thừa biết tôi đi đâu. Tôi đạp xe với tốc độ không thua các tay đua vòng quanh Đông Dương, xẹt qua trước nhà cô bạn mà tôi thương vụng nhớ thầm từ năm 17 tuổi và chưa hề mở lời yêu đương.
Nàng đang ngồi chải tóc ở cửa sổ trên lầu. Không rõ nàng có nhìn thấy tôi hay không, nhưng tôi vội vàng đánh bạo thu hết can đảm hôn gió trên bàn tay phải ném về phía cửa sổ rồi lao xe như gió về nhà, trước giờ xe chạy khoảng 10 phút. Ở miền Bắc hồi ấy trai gái còn nhút nhát, phải can đảm lắm mới dám làm như thế vì tôi linh cảm chuyến đi này sẽ lâu lắm., có thể là cả đời. Sau này trong đời lính chưa bao giờ tôi phải vận dụng can đảm cao độ như vậy dù gặp nhiều tình thế rất khó khăn nguy hiểm.
di cu 54
.Quân cảnh Pháp thi hành đúng giờ giấc như quy định. Tại trạm kiểm soát Cổng Hậu, từng đoàn xe gồm năm mười chiếc có lính hộ tống được cho khởi hành. Một vài xe đến muộn phải đậu một bên đường chờ giải quyết sau. Trên đường đi, tại mỗi cây cầu đều có một toán Công Binh đặt sẵn chất nổ. Một trung sĩ Công Binh Việt Nam cho biết họ phải phá nổ các cầu này khi đơn vị cuối cùng đi qua. Buổi trưa đoàn xe chúng tôi đi đến Hà Nội. Gia đình tôi về ở nhà người thân. Đêm hôm ấy thị xã Phủ Lý bị một sư đoàn Việt Minh tấn công. Thành phố đã hư hại sẵn nay lại chịu tàn phá gần hết những gì còn lại.
Cuộc rút lui này tuy tiêu biểu cho việc Pháp thua trận nhưng lại là cuộc rút lui thành công. Dựa vào tài liệu của Pháp và thực tế quan sát thấy tại chỗ, cho thấy Đại Tá Vanuxem chỉ huy trưởng Phân Khu Nam đã điều động cuộc rút lui mau lẹ, có trật tự với tổn thất nhẹ không đáng kể. Đoàn quân rút lui vượt qua nút Phủ Lý trước khi bị địch đánh chận.
di cu 54
.Kế hoạch tỉ mỉ do bộ tham mưu Pháp bí mật soạn thảo, trong đó chỉ có các sĩ quan từ đại úy mới được cho tham dự. Mọi việc đánh máy, chuyển nhận công điện, văn thư tài liệu đều do các cấp sĩ quan từ đại úy trở lên đích thân thi hành. Bí mật được giữ đến phút chót. Chỉ có một điều đáng tiếc là nhiều đội dân quân tự vệ ở nhiều làng mạc các tỉnh vùng này kể cả quanh những trung tâm chiến lược như Phát Diệm, Bùi Chu bị Pháp bỏ rơi. Nhiều dân quân chạy không kịp bị Việt Minh bắt và giết hại.
Hà Nội vốn yên tĩnh, lúc đó đang sống thanh bình không nghe tiếng súng. Những vũ trường, hàng quán sang trọng và độc đáo với những thắng cảnh nổi tiếng đầy bóng dáng người đẹp thướt tha. Cuộc di tản 4 tỉnh phía Nam làm cho đường phố Hà Nội đông người thêm nhưng vẫn không mất vẻ mỹ lệ của đất Thăng Long ngàn năm văn vật.
Lúc ấy hội nghị Geneve bắt đầu họp. Ai cũng thấy phe Cộng Sản đang nắm ưu thế. Những người có quan tâm đều lo ngại không biết sẽ đình chiến kiểu nào. Có thể là hai bên ngưng bắn xen kẽ mà sau này năm 1972-73 người ta gọi là “giải pháp da beo.” Cũng có thể là chia đôi đất nước thành hai miền Nam và Bắc. Người ta cũng bàn tán gay go về ranh giới đình chiến sẽ nằm ở vĩ tuyến nào? Vĩ tuyến 13, 16 hay 19?
di cu 54
Đầu tháng 7, ông Diệm ra Hà Nội. Một số đông đảo dân chúng chào đón ông, và nhiều người hy vọng vị nhân sĩ này sẽ cứu vãn tình hình. Sau đó ngày 7 tháng 7 năm 1954 ông Diệm chính thức nhậm chức thủ tướng. Ông thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt. Các đoàn thể, đảng phái chống Cộng đều ủng hộ đường lối này. Nhiều sĩ quan, binh sĩ cũng sẵn sàng tham gia việc phòng thủ lãnh thổ phe quốc gia đang nắm giữ. Một số đông đảo đặt niềm hy vọng lớn lao vào sự trợ giúp của Hoa Kỳ thay thế người Pháp.
Nhóm chúng tôi là đảng viên Đại Việt và Quốc Dân Đảng đều hăng hái tham gia tuyên truyền vận động ủng hộ chủ trương giữ Bắc Việt. Đêm đêm, chúng tôi đi ném truyền đơn ở khu Hồ Tây, Cổ Ngư, Ngọc Sơn và nhiều nơi khác kể cả những nơi có lính Pháp lui tới. Hà Nội bắt đầu có không khí căng thẳng và phảng phất mùi chiến tranh.
Đường phố Hà Nội về khuya lần đầu tiên có những bóng dáng cảnh sát võ trang súng trận Mas-36 và quân phục tác chiến đi tuần tiễu. Nhưng các cơ sở dân sự cơ yếu và doanh trại quan trọng của Quân Đội Quốc Gia đều thấy có lính Maroc hoặc da đen canh gác, rõ ràng là Pháp đang phòng ngừa chính biến chống lại họ.
Ngày 14 tháng 7, quân đội Pháp tổ chức diễn binh ờ Bờ Hồ phía Tòa Thị Chính. Thông cáo và bích chương của Pháp vẽ hình nắm đấm được thấy khắp nơi. Pháp giải thích rằng rút 4 tỉnh phía Nam là bàn tay trước kia xòe ra nay nắm lại để đánh mạnh hơn. Tất nhiên ít ai tin vào luận điệu này.
Đám học sinh chúng tôi từ Nam Định chạy về nhiều đứa tình nguyện vào Khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị và lục tục lên đường khoảng trước ngày 15 tháng 7 năm 1954. Phần còn lại thường tìm gặp nhau trao đổi tin tức và bàn luận về tình hình đất nước.
di cu 54
Chiều 21 tháng 7 năm 1954 khi bọn tôi đang tụ họp thì có tin trên đài Con Nhạn (Hirondelle) của quân đội Pháp vang lên lời loan báo “Hiệp Định Đình Chiến đã được ký kết.” Tờ báo của quân đội Pháp cũng đăng câu ấy trên trang nhất bằng chữ lớn. Mọi người bàng hoàng dù biết trước thế nào việc này cũng sẽ đến. Báo này cho hay đất nước phân chia ở sông Bến Hải, Vĩ Tuyến 17.
Tân Thủ Tướng Pháp Mendès-France nhậm chức ngày 17/6/54, đã tuyên bố rằng ông ta sẽ từ chức nếu không đạt được thỏa hiệp trước ngày 20 tháng 7 năm 1954. Vì thế hiệp định Geneve về Đông Dương được ký lúc sáng sớm ngày 21 nhưng nhà cầm quyền Pháp đã cho đồng hồ ngưng chạy từ đêm trước để làm như lúc ấy vẫn còn là ngày 20. Tại Việt Nam thời điểm này là trưa ngày 21.
Hà Nội liền thay đổi rõ rệt. Niềm hy vọng giữ Bắc Việt lịm tắt dần và dân chúng nóng lòng về tin tức sẽ có cuộc di cư. Một số bài trên báo chí đang từ thái độ chống cộng quay dần sang ủng hộ Việt Minh. Người các tỉnh đổ về Hà Nội đông đảo. Cán bộ Việt Minh cấp thấp ra vào Hà Nội dễ dàng. Đồ chơi trẻ em bày bán trước dịp Trung Thu có những chiếc máy bay, xe thiết giáp, xe chở lính, tàu thủy được sơn cờ đỏ sao vàng. Các cơ quan an ninh chẳng ai thèm để ý.
di cu 54
Một số cán bộ Việt Minh quen biết gia đình tôi đến thăm và khuyên gia đình tôi nên ở lại nhưng mẹ tôi và tôi đã dứt khoát ra đi. Sau đó 4 tháng, chúng tôi gặp lại vài người trong số cán bộ này ở Sài Gòn. Chính họ cũng đã mau chóng nhận rõ thực chất của Cộng Sản và kịp thời ra đi trước khi cảng Hải Phòng đóng cửa tháng 3 năm 1955.
Những gia đình chuẩn bị di cư đem đồ đạc bày bán dọc bờ hồ Thiền Quang làm thành một thứ chợ trời. Một buổi sáng sớm khi những người đầu tiên đang lục tục khuân đồ đạc đến chợ thì thấy có một lá cờ đỏ sao vàng treo trên tàng cây cao chừng ba bốn mét. Một thanh niên nổi nóng trèo lên giật lá cờ ném xuống đất.
di cu 54
Một trung tá người Pháp đi bộ ngang qua hung hăng can thiệp, lớn tiếng đại ý nói đó là quốc kỳ của một nhà nước, không được xúc phạm. Ông ta không ngờ những người bán chợ trời đều không ưa lá cờ máu ấy. Thế là xô xát xẩy ra, kết quả viên trung tá bị trọng thương vì gạch đá gậy gộc cho đến lúc xe quân cảnh Pháp cấp cứu.
Tin tức về di cư được loan báo chính thức vào đầu tháng 8. Nhiều nhà giầu đã đi vàoNam bằng phương tiện riêng. Đại đa số còn lại đợi ghi danh di cư bằng phi cơ và tàu biển. Trong nhóm chúng tôi từ Nam Định lên, phần đi Khóa 5 Thủ Đức, số còn lại một phần tham gia đoàn cán bộ xã hội được gửi vào Nam để phụ trách các trại tiếp cư do Bộ Xã Hội thiết lập. Tôi ở trong số này. Buổi chiều ngày 11 tháng 8 năm 1954 bốn đứa bọn tôi đi bộ thăm tất cả các di tích và thắng cảnh quanh Hà Nội lần cuối.
di cu 54
Hình chụp vào tháng 9 năm 1954 với một số người Bắc di cư trên tàu USS Bayfield khi tàu vừa cặp bến Saigon. Sau Hiệp Định Geneve, tàu USS Bayfield là một trong những vận-chuyển hạm của Hải Quân Hoa Kỳ được giao phó nhiệm vụ chở người tị nạn từ Bắc vào Nam.
Sáng sớm 12 tháng 8 khi qua cửa kiểm soát phi trường Gia Lâm, một trung úy Nhảy Dù người Pháp hỏi chuyện chúng tôi vì thấy 25 đứa trong đoàn cán bộ xã hội toàn là thanh niên còn trẻ. Sau khi nghe chúng tôi nói rõ lập trường và mục đích ra đi, ông ta nắm tay chúng tôi giọng xúc động nói rằng, “Nước Pháp đã liên tiếp sai lầm để các bạn chịu hậu quả đau đớn hôm nay.” Nói xong không ai ngờ viên trung úy trẻ dưới 30 này bật khóc, nước mắt chảy dài trên má.
Chúng tôi cũng cảm động tuy nhiên vẫn còn cầm được nước mắt. Nhưng khi phi cơ lượn một vòng lấy cao độ, tất cả đều ngó xuống. Giữa tấm thảm mây mưa xám xịt che kín bên dưới phi cơ có một khoảng trống vuông vắn hiện ra Hồ Gươm và 36 phố phường. Cảnh tượng tuy tầm thường nhưng lại gây xúc động mạnh, khiến đứa nào cũng rưng rưng nước mắt. Đây là lần chúng tôi vĩnh biệt Hà Nội. Vĩnh biệt miền Bắc.
di cu 54
Sau những giờ bay dài phi cơ đến Tân Sơn Nhất, cảnh những con rạch đỏ ngầu giữa hai hàng dừa xanh làm chúng tôi tươi vui hơn. Được đưa về nhận việc tại trại Bệnh Viện Bình Dân dưới quyền Bộ Xã Hội, ngày hôm sau chúng tôi được phân phối đi các trại tiếp cư khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định. Đợt đầu tiên đồng bào di cư bằng cầu vận chuyển của chính phủ và các nước trợ giúp đã vào Sài Gòn từ đầu tháng 8 năm 1954.
Nhờ vào dịp hè, các trường học vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định được trưng dụng để đón nhận người di cư đến bằng phi cơ quân và dân sự, các quân vận hạm Mỹ như Marine Serpent và Marine Addler, các mẫu hạm Anh và Pháp. Trại tiếp cư lớn nhất vùng Sài Gòn là trại Phú Thọ Lều (sát trường đua Phú Thọ, gồm hàng trăm lều vải lớn mỗi lều chứa bốn năm gia đình do quân đội Mỹ dựng. Gọi là Phú Thọ Lều để phân biệt với trại Học Sinh Di Cư Phú Thọ ở gần kế đó. Trại Phú Thọ Lều chứa trên 10 ngàn người.
di cu 54
Trợ cấp tiền mặt một ngày cho mỗi người lớn 12 đồng, trẻ em 6 đồng, dư để ăn ba bữa tươm tất. Lúc ấy một bát phở hay một tô hủ tiếu giá 3 đồng, một bữa cơm ở quán ăn xã hội hai món canh và mặn giá 5 đồng. Chai bia 3 đồng kể cả nước đá, một gói thuốc lá Ruby 8 đồng. Lương giáo viên tiểu học khoảng hơn 4,000 đồng, lương trung sĩ 2,200 đồng, lương cán bộ ngang lương thấp là 1,500 đồng. Một căn nhà gỗ lợp tôn 4×20 mét ở mặt đường khoảng chợ Hòa Hưng giá chừng 30,000 đồng.
Đời sống trong các trại tiếp cư rất đa dạng. Sống chật chội chung đụng và ồn ào, làm nảy sinh nhiều vui buồn, đụng chạm, kết bạn, rã bạn, tạo ra những mối tình ái lăng nhăng xấu tốt đủ cỡ đủ kiểu. Những cảnh âu yếm giao tình nặng nhẹ bên bờ bụi gần trại trong đêm khuya vắng vẻ của trai gái, vợ chồng đủ lứa tuổi, là những nét sinh hoạt rất sống động có đủ vui, buồn, yêu, giận, phát khóc và nực cười.
Từ tháng 8 năm 1954, mỗi ngày có trung bình hàng ngàn người từ Hà Nội và Hải Phòng vào Sài Gòn bằng đường hàng không và nhiều ngàn người mỗi tuần bằng tàu chiến. Công việc định cư được tiến hành song song và khẩn thiết. Phủ Tổng Ủy Di Cư lúc ấy đã thay thế bộ Xã Hội trong nhiệm vụ chuyên biệt này.
di cu 54
Thời gian tạm cư kéo dài đến cuối năm 1954 và các trường học được trả lại cho học sinh. Trại Phú Thọ Lều giải tán. Người di cư theo nhau đi định cư khắp nơi, ở nhà tư hoặc ở các trại định cư khắp các tỉnh. Tính đến chuyến tàu sau cùng tháng 3 năm 1955 có khoảng 950,000 người từ bắc Vĩ Tuyến 17 di cư vào Nam. Nếu tính theo giấy tờ, con số này có thể lên tới hơn 1 triệu vì có sự gian lận sổ sách của một số viên chức cán bộ lợi dụng thủ tục khai và lãnh tiền trợ cấp dễ dàng. Và không phải 90% người di cư là tín đồ Công Giáo như nhiều người nhận định. Số đồng bào Công Giáo di cư có lẽ chỉ chiếm khoảng 70% tổng số. Một điểm đáng ghi nhận là đáng lẽ số người di cư còn cao hơn nữa nhưng vì vụ tướng Nguyễn Văn Hinh chống ông Diệm và những cuộc giao tranh giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên đầu năm 1955 ở Sài Gòn nên nhiều người Bắc không dám vào Nam. Tin tức về vụ này làm một số rất nhiều người đã định ra đi nhưng vì e ngại loạn lạc mà đổi ý.
di cu 54
Nói chung, sự xuất hiện của ông Ngô Đình Diệm và thái độ can dự của người Mỹ đã gây được tin tưởng trong một số đông đảo người miền Bắc khiến họ yên tâm vàoNam. Đại đa số thành phần trí thức, chuyên viên cao cấp như kỹ sư, bác sĩ, chuyên viên trung cấp, thợ giỏi, đã rời bỏ đất Bắc khiến chính quyền ông Hồ Chí Minh gặp khó khăn lớn trong mục tiêu xây dựng một đội ngũ chuyên viên kỹ thuật mà họ cho là xương sống của nền kinh tế và khoa học kỹ thuật Xã Hội Chủ Nghĩa.
Cuộc di cư năm 1954 tạo ra những thay đổi sâu rộng trong lịch sử Việt Nam. Xin ghi lại một vài sự kiện nổi bật xảy ra và những nét đặc biệt của cuộc di cư sau Hiệp Định Geneve 1954 điển hình tại vùng thủ đô Sài Gòn.
Trước hết phải nhìn nhận cuộc di cư đã giúp hàn gắn những chia cách đáng buồn giữa hai miền trong nước. Tình trạng chia rẽ do hậu quả của những năm dài dưới chế độ thuộc địa Pháp đã tiêu tan mau chóng. Những dị biệt về phong tục, ngôn ngữ vì ngăn cách, lâu ngày được san bằng gần hết. Những ngăn cách và hiểu lầm còn lại không gây hậu quả nào nghiêm trọng. Về mặt chính trị và xã hội, sau nhiều biến chuyển và chiến tranh, cuộc di cư vĩ đại năm 1954 đã góp phần thay đổi bộ mặt bề ngoài cũng như nếp sống của dân chúng đến chỗ tốt đẹp, phong phú hơn.
di cu 54
Trước tháng 10 năm 1954, chính quyền địa phương còn gần y nguyên như thời Pháp Thuộc. Văn thư, giấy tờ, tên công sở, phố xá còn dùng tiếng Pháp. Từ khi chính phủ Ngô Đình Diệm nắm toàn quyền sau những âm mưu đảo chánh bất thành, luật lệ được thi hành nghiêm chỉnh. Nhiều cải cách hành chánh đã làm giảm hẳn nạn giấy tờ nhiêu khê. Văn thư, giấy tờ đều bắt đầu dùng tiếng Việt. Xin Tư Pháp Lý Lịch bây giờ chỉ mất một tuần thay vì đợi 3 tháng. Xin chứng nhận bản sao đợi lấy ngay hay sau vài giờ thay vì một tuần lễ. Các cuộc cải tổ mạnh mẽ được tiến hành có kết quả tốt nhờ phần nào ở sự ủng hộ tích cực của đồng bào di cư đối với chính phủ.
Cuộc đổi tiền Đông Dương thành tiền Việt Nam năm 1955 trong 3 ngày không giới hạn số lượng là một đòn bất ngờ vô hiệu hóa hàng tỷ bạc Đông Dương mà chính quyền Hồ Chí Minh thu gom được ở miền Bắc vì họ không kịp chuyển vào Nam để đổi lấy tiền miền Nam mới. Đợt đổi tiền này cũng chấm dứt luôn thói quen tiêu dùng coi nửa tờ giấy bạc 1 đồng như 5 cắc (hào). Khi cần xài hay trả lại 5 cắc, chỉ cần xé đôi tờ giấy bạc một đồng. Đành rằng tập tục này không áp dụng cho những giấy bạc mệnh giá trên một đồng.
di cu 54
Lúc ấy ảnh hưởng tuyên truyền của Cộng Sản rất mạnh ở nam phần ngay tại Sài Gòn. Nhiều người mở đài Hà Nội công khai mà không ai bắt bớ. Nhiều người miền Nam ít hiểu biết về thực tế Cộng Sản đã thật thà hỏi mấy đồng bào di cư mới gặp gỡ rằng “Ngoài Bắc đã độc lập rồi, mấy thầy cô dô đây làm chi?” Do đó đã xẩy ra một số đụng chạm nhỏ trong tháng đầu. Dần dần đồng bào miền Nam mới nhìn đồng bào di cư một cách có thiện cảm hơn.
Trong bối cảnh ấy, lực lượng học sinh di cư đã dẫn đầu cuộc biểu tình vào dịp 20 tháng 7 năm 1955 đòi tống xuất các đoàn đại biểu của quân đội Cộng Sản từ Hà Nội trú đóng tại hai khách sạn Majestic và Galliéni (đường Trần Hưng Đạo). Khi bị khiêu khích, cuộc biểu tình biến thành bạo động, gây thiệt hại nặng cho hai khách sạn nhưng không có thương vong quan trọng. Những hành vi cương quyết của quần chúng khiến bọn thân Cộng Sản không còn nhởn nhơ tuyên truyền bán công khai như trước.
Người di cư tiếp xúc, trao đổi với dân chúng địa phương mau chóng tạo ra những hiểu biết và thông cảm. Về kinh tế thương mại, người Bắc vào Nam đã mở mang thương trường, ra các cửa hàng nhất là hàng ăn. Năm 1954 hầu hết cửa tiệm ăn do người Hoa kinh doanh, và họ dành độc quyền ngành lúa gạo cũng như các sạp thịt ở mọi chợ. Đời sống dễ dàng ở miền Nam khiến người Việt ít muốn cạnh tranh, ngay như ngành công chức cũng không hấp dẫn nhiều người. Bà con lao động xích lô kiếm đủ tiền tiêu trong ngày nhiều khi đẩy xe lên lề dưới bóng cây làm một giấc, khách gọi mấy cũng từ chối. Cách biệt giầu nghèo ở Nam Việt lúc ấy rất ít.
Các tầng lớp dân di cư cần cù chịu đựng tham gia thị trường lao động đã làm cho đời sống kinh tế miền Nam lên cao nhưng lại buộc mọi người phải làm ăn chăm chỉ hơn. Một số người địa phương không hài lòng vì nếp sống thong thả lè phè cũ đã mất đi không còn trở lại.
di cu 54
Hình chụp tại Saigon vào tháng 10 năm 1954 trong một trại định cư với hàng trăm căn lều. Lúc đó, một trong những trại định cư lớn nhất ở Saigon là trại Phú Thọ Lều được thiết lập tại Quận 10 sát bên trường đưa Phú Thọ. Trại này có lúc đã chứa đến 10,000 người di cư.
Trang phục phụ nữ hai miền khác nhau, nổi rõ nhất là giới nữ sinh trung học tuổi đôi tám. Nữ sinh Hà Nội làm dáng sớm hơn, quần hẹp, áo dài nở vòng số một. Nữ sinh Sài Gòn vận quần trắng rộng, áo bà ba trắng nhiều hơn áo dài được may vòng số 1 tương đối phẳng phiu có lẽ vì đó là cách tỏ ra là con nhà nghiêm túc. Sau hơn một năm các cô hai miền tự nhiên hòa hợp cách ăn mặc, bọn thanh niên sinh viên học sinh chúng tôi không còn phân biệt được gốc gác các cô qua y phục nữa. Điều quan trọng và dễ thương hơn hết là những câu chuyện tình Bắc duyên Nam đã nhiều khi hóa giải rất nhiều cho những mâu thuẫn văn hóa chính trị.
Các trường phía Bắc di chuyển vào Sài Gòn giữ gần y nguyên ban giám hiệu và tổ chức riêng. Từ Hà Nội vào, Chu Văn An tiếp tục tại cơ sở cạnh Petrus Ký. Trưng Vương học chung cơ sở nhưng khác giờ với Gia Long… sau hai ba năm mới ra học ở các cơ sở riêng trước Thảo Cầm Viên. Mấy năm sau nữa thì học sinh gốc hai miền dần dần pha trộn.
Chuyện đáng nhớ là năm 1955 học sinh Bắc vào Nam và các bạn gốc miền Nam mở chiến dịch phá bỏ tên đường tiếng Pháp. Nhờ đó mà việc đặt tên đường mới, vốn là việc mất nhiều công sức, đã được Tòa Đô Chánh Sài Gòn thực hiện trong vòng khoảng một tháng
di cu 54
Về mặt văn hóa và báo chí, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo từ Bắc vào Nam đã hòa hợp với đồng nghiệp miền Nam tạo ra sinh khí mới, lối viết và văn phong, sắc thái trong sáng, có sức truyền đạt hơn. Sau một thời gian ngắn người đọc chỉ có thể nhận thấy một số khác biệt ít ỏi giữa bài vở sách báo do các tác giả gốc từ các miền khác nhau viết ra.
Đặc biệt là về tân nhạc, lớp nhạc sĩ và ca sĩ cũng như những người yêu nhạc từ miền Bắc vào Nam đã lôi cuốn được phong trào âm nhạc mới phát triển mạnh để tiến đến tới cao điểm nghệ thuật ca nhạc trong các thập niên sau. Và ngược lại số người Bắc di cư hâm mộ ca nhạc kịch cải lương cũng gia tăng nhiều.
Về mặt ăn chơi, sự thay đổi rõ rệt hơn. Sòng bạc Kim Chung, Đại Thế Giới, khu mại dâm Bình Khang bị đóng cửa đầu năm 1955. Giữa năm 1954 cả Sài Gòn hình như chỉ có 2 hay 3 tiệm phở Bắc. Chỉ sau vài tháng số tiệm phở tăng đến hàng chục. Các quán cà phê cũng lục tục ra đời cùng với các ngành buôn bán khác. Các xuất gọi là phụ diễn tân nhạc trước khi chiếu phim chính ra đời dần dần tiến đến những buổi trình diễn âm nhạc chuyên nghiệp gọi là “nhạc hội” giúp vào việc phổ biến âm nhạc sâu rộng hơn. Trước đó hoạt động âm nhạc chỉ được biết qua các chương trình ca nhạc và các cuộc thi hát, tuyển lựa ca sĩ của các đài phát thanh quốc gia, đài quân đội và đài Pháp Á cùng hai đài Huế và Hà Nội.
Ngôn ngữ hai miền sau cuộc di cư cũng thay đổi và pha trộn về từ ngữ tuy vẫn giữ những nét độc đáo của từng vùng mà không lai giọng. Điểm đáng lưu ý là sau nhiều năm gia đình gốc gác miền Bắc di cư có con cái đứa thì nói giọng địa phương (Nam hay Trung), đứa thì nói giọng Bắc, đứa thì nói cả hai ba giọng tùy theo môi trưởng xóm giềng và trường học. Nhưng không mấy ai nói lẫn lộn cùng một lúc các giọng khác nhau.
di cu 54
Về mặt đời sống xã hội, người di cư dần dần và chậm chạp chịu ảnh hưởng bởi lối sống phóng khoáng, chân thật, thẳng thắn của dân miền Nam. Sau một thế hệ, tính nết người Bắc di cư khác hẳn tính nết của đồng hương của họ còn ở lại quê nhà. Đến sau 30 tháng 4 năm 1975 người ta càng thấy điều này rõ rệt hơn khi gặp đợt Bắc Kỳ mới vào Nam.
Trong đời sống tinh thần, có hai sự kiện đáng nhớ trong thời gian ấy. Một là trước ngày Việt Minh tiếp thu Hà Nội thì chùa Một Cột, di tích quý báu nhất của Việt Nambị kẻ vô danh phá bằng chất nổ. Rất may chùa chỉ hư hại một góc. Nghe tin ấy chúng tôi đều hết sức buồn phiền. Hai là giữa lúc nhịp độ di cư đang lên cao thì Hoàng Dương, em nhạc sĩ Hoàng Trọng cho ra đời ca khúc Hướng Về Hà Nội với lời ca tha thiết “Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi… mái trường phượng vĩ dâng hoa, dáng chiều ủ bóng tiên nga… biết đâu ngày ấy anh về.” Ca khúc này khiến lứa tuổi 18, 19 chúng tôi cảm thấy rõ điều mà các văn thi nhạc sĩ gọi là “tan nát cõi lòng.”
di cu 54
Dĩ nhiên trong ngót một triệu người Bắc di cư có đủ mọi thành phần tốt xấu kể cả đầu trộm đuôi cướp, quan lại tham nhũng, trọc phú bất lương, tay sai thực dân và nội tuyến Cộng Sản. Nhưng so với số các phần tử tinh hoa của xã hội, số người yêu nước, chuyên viên giỏi các loại, các nhân sĩ, trí thức, chiến sĩ quốc gia chân chính, thì những phần tử xấu xa nói trên chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ bé.
Một số người cho rằng người miền Bắc di cư đã là chứng nhân lịch sử khiến đồng bào miền Nam hiểu rõ bản chất của chế độ Cộng Sản. Điều đó có thể đúng một phần nhỏ. Phần quan trọng hơn là chính vì thực tế những đường lối mà Cộng Sản thi hành tại miền Nam tại nông thôn từ khoảng năm 1961 trở đi. Từ đó họ đã thấy rằng chế độ Cộng Sản đi ngược lại quyền lợi và sự an hòa của nhân dân ta nhất là giai cấp nghèo khổ ở nông thôn.
di cu 54
Tôi và các bạn cùng lứa tuổi di cư vào ở miền Nam gần 40 năm tính đến năm 1990 qua di trú sang Hoa Kỳ. Tuy sinh ra trên đất Bắc nhưng chỉ ở Bắc dưới 20 năm trong đó mới biết chuyện đời được dăm ba năm. Vì thế chúng tôi có hai miền quê quán. Quê quán thứ nhất ở miền Bắc còn ở trong tim nhiều hơn. Quê quán thứ hai ở miền Nam sau ngày di cư năm 1954 mới thực sự chứa đựng nhiều vui buồn, yêu thương, giận dỗi, vinh quang và tủi nhục vì trải qua quãng đường đời dài 40 năm với biết bao nhiêu là kỷ niệm.
Lữ Tuấn