Samstag, 22. Oktober 2016

NHỮNG CÁI NHẤT CỦA VUA CHÚA VIỆT NAM


1. Ở ngôi lâu nhất:
Vua Lý Nhân Tông ở ngôi 56 năm (1072- 1127). Lý Nhân Tông còn là ông vua có nhiều niên hiệu nhất: 8 niên hiệu, trong đó có niên hiệu Hội Tường Đại Khánh được dùng lâu nhất là 10 năm. Vua là con trưởng của Lý Thánh Tông và mẹ là thái hậu Ỷ Lan. Nhân Tông trán dô mặt rồng, tay dài quá gối, sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân, là một vua giỏi của triều Lý, hưởng thọ 61 tuổi.
2. Ở ngôi ít nhất:
Vua Lê Trung Tông (nhà tiền Lê) và vua Nguyễn Dục Đức (Nguyễn Phúc Ưng Chân), mỗi vị ở ngôi 3 ngày, không kịp đặt niên hiệu.
Khi Lê Hoàn mất, các con chém giết lẫn nhau. Sau 8 tháng đánh nhau quyết liệt, Trung Tông lên ngôi, được 3 ngày thì bị em là Lê Long Đĩnh giết chết.
Dục Đức lên ngôi theo di chiếu của Tự Đức. Hai phụ chính đại thần là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết nại rằng Dục Đức muốn cải di chiếu nên đã sai Trần Tiễn Thành đọc bớt đi (đoạn nói mắt vua có tật, tính thì hiếu ****....), có tang vẫn dùng áo màu.... dâng sớ lên Hoàng thái hậu đặt vua khác. Vua bị phế khi vừa lên ngôi được 3 ngày ( 20, 21, 22.7.1883), bị giam và bỏ đói, rồi chết.

Freitag, 21. Oktober 2016

Lưỡng đầu chế thời Lê Trịnh và những hệ quả lịch sử của nó


Mọi cơ chế quyền lực ở bất cứ thời đại và dân tộc nào một khi đạt tới trạng thái định hình của một quá trình vận động đều hoặc tự lý thuyết hoá bản thân nó, hoặc đều xác định sự tòng thuộc của nó đối với một (hay một vài) lý thuyết ý thức hệ đã và đang lưu hành trong vùng văn hoá mà cộng đồng cư dân đó hiện diện.
Cho đến thời điểm hiện nay, người nghiên cứu nghiêm túc nếu muốn đề cập tới những đặc điểm loại hình của các thực thể quyền lực đã từng tồn tại trong lịch sử Việt Nam vẫn phải tự bằng lòng với điểm vươn tới xa nhất là vương triều do Triệu Đà lập nên. Và cần nói ngay rằng, đó là một thiết chế quyền lực mang nhiều đặc điểm tương đồng loại hình với những thiết chế quyền lực hiện hữu ở ngoại vi (périphérique), những thiết chế chịu ảnh hưởng mà cũng là phản hưởng đối trọng trong mối quan hệ với cả lý thuyết lẫn thực tế quyền lực trên đất Hoa Hạ Trung Quốc.
Khảo sát lịch sử Việt Nam trong khung khổ từ thời điểm phục hồi chủ quyền và độc lập (938) cho tới tận khi thực dân Pháp áp đặt được sự “bảo hộ” lên Đông Dương (1884), hầu như mọi nhà nghiên cứu đều có thể dễ dàng thừa nhận rằng những đặc điểm mang tính loại hình của các triều đại ở Việt Nam càng về sau càng đậm tính chất Nho giáo hoá , nói khác đi, những đặc điểm loại hình nhà nước kiểu Nho giáo là những đặc điểm chủ đạo và xuyên suốt trong toàn bộ quá trình hơn chín thế kỷ tồn tại của các thiết chế quyền lực thực tế trên xứ sở này.

Freitag, 14. Oktober 2016

Sài Gòn: 'Ăn quận 5, nằm quận 3, múa ca quận 1, trấn lột quận 4'





Quận 5 - Thiên đường ẩm thực


Người Sài Gòn trước đây có câu nói: “Ăn quận 5, nằm quận 3, xa hoa quận 1, cướp giật quận 4”, chỉ 14 chữ đã tóm tắt đủ nét đặc trưng của bốn quận nổi tiếng nhất trên đất Sài Gòn xưa.
Người Trung Quốc xưa có câu nói: “Ăn ở Quảng Châu, mặc đồ Hàng Châu, lấy vợ Tô Châu và chết ở Liễu Châu” (Quảng Châu nổi tiếng ẩm thực, Hàng Châu nổi tiếng lụa đẹp, Tô Châu nổi tiếng gái đẹp và Liễu Châu có loại gỗ đóng quan tài rất lâu bị mục). Trong bốn yếu tố đó, cái ăn được người Trung Quốc đưa lên hàng đầu, phải ăn ngon để tận hưởng cuộc sống. Được mệnh danh là “kinh đô mỹ vị”, thủ phủ Quảng Châu của Quảng Đông tập trung rất nhiều tinh hoa ẩm thực của Trung Quốc và giao thoa với ẩm thực thế giới. Người Quảng Đông di cư sang Việt Nam rất nhiều và văn hóa ẩm thực Quảng Đông cũng theo đó mà tụ về Chợ Lớn.

Donnerstag, 22. September 2016

Đại học Văn khoa : Giáo sư Nguyễn Thế Anh và ban Sử Đại học Văn khoa Sàigòn

Giáo sư Nguyễn Thế Anh và ban Sử Đại học Văn khoa Sàigòn

image003
TRẦN ANH TUẤN


Lời nói đầu: Sau bài viết về sử gia Tạ Chí Đại Trường, tôi chia sẻ thêm bài viết về vị thầy học của sử gia họ Tạ và của chúng tôi tại trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn trong thập niên 60 của thế kỷ trước. TAT

giáo sư Nguyễn Thế Anh
http://www.bbc.com/vietnamese/multimedia/2013/11/131107_ngo_dinh_diem_the_years_after.shtml



Trước năm 1975 thời Việt Nam Cộng Hòa, giáo sư Nguyễn Thế Anh có công gây dựng nên uy tín Ban Sử trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Số sinh viên ghi danh năm thứ nhất niên khoá 1974-75 lên đến khoảng 4,000 người. Trong vai trò Phó Khoa Trưởng Học Vụ, ông cũng là người chịu trách nhiệm soạn thảo chương trình tiến sĩ văn khoa Việt Nam, vốn bị xoá bỏ từ năm 1919 dưới thời Pháp thuộc. Chương trình này gồm hai cấp. Cấp thứ nhất gọi là “Năm Thứ Nhất Tiến Sĩ Chuyên Khoa.” Sau đó trong cấp thứ hai, ứng viên mới sửa soạn luận án.
Chương trình tiến sĩ chuyên khoa Sử Học bắt đầu trong niên khoá 1972-73 thì xảy ra biến cố, có tính cách lịch sử trong giới đại học VNCH.

Nguyên niên khoá đầu tiên ấy có 7 thí sinh ghi danh, thì 5 người không đậu kỳ thi cuối khoá. Năm thí sinh thi trượt đều là những người có danh vị trong xã hội bấy giờ. Tất cả đều đã có Cao Học. Một, là giáo sư trung học Nguyễn Trãi Sài Gòn. Một, là Giám Sát Viên thuộc Giám Sát Viện VNCH. Một, là giáo sư đại học Huế. Một, là Phó Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa Cần Thơ... Theo tôi nghĩ, điều các thí sinh thi trượt uất ức là vì một trong hai thí sinh trúng tuyển được nhận xét là chỉ có khả năng bình thường. Trong lá thư ngỏ của các thí sinh thi trượt đăng trong các nhật báo Sài Gòn lúc đó, như Sóng Thần chẳng hạn, có một câu mà tôi còn nhớ, nguyên văn: “Chúng tôi có thể dốt, nhưng không thể dốt hơn ông...”

Dienstag, 20. September 2016

Giới Thiệu và Nhận Xét về Tập San Sử Địa của hai miền Nam Bắc

Giới Thiệu và Nhận Xét về Tập San Sử Địa của hai miền Nam Bắc

 NGUYỄN VĂN LỤC


     Giáo Sư Nguyễn Văn Lục
Sự hình thành Tập San Sử Địa ở miền Nam

Sau biến cố chính trị lật đổ tổng thống Ngô Đình Dieêm, nhiều sinh hoạt của giới sinh viên bắt đầu xuất hiện. Các sinh hoạt chính trị, xã hội, văn hóa thời ấy như rộ lên. Thêm nhiều báo chí ra đời. Có khi lên đến hơn 40 tờ. Giới sinh viên lúc đó như nhận thức rõ về vai trò của họ, thấy được sức mạnh của họ và của đám đông. Họ tự tin hơn, nhân cách của từng cá nhân được xác định rõ nét hơn. Nhiều tổ chức chính tri, văn hóa cũng như xã hội của giới sinh viên ra đời mà chính họ là người nắm giữ các vai trò then chốt. Họ biểu tình, xuống đường hoan hô đả đảo như cơm bữa. Mỗi phân khoa đại học đều có báo riêng do sinh viên chủ trương ào ạt ra mắt như các tờ Văn Khoa, Tin Tưởng, Vùng Lên, Hồn Trẻ, Bừng Sáng, Lửa Thiêng... Trong đó không thiếu những tờ lấp ló tinh thần thiên tả.

Có thể nói sinh viên thời đó trưởng thành trong không khí đấu tranh. Họ chấp nhận phiêu lưu, mạo hiểm và sẵn sàng dấn thân. Chẳng hạn cuộc biểu tình của sinh viên nhằm xé bỏ Hiến Chương Vũng Tàu, lật đổ tướng Nguyễn Khánh vào tháng 8-1964.


Nhiều khuôn mặt sinh viên xuất hiện như một thứ lãnh tụ như Phạm Đình Vy, Lê Hữu Bôi (bị cộng sản sát hại dịp Tết Mậu thân ở Huế), Nhuyễn Trọng Nho, Nhuyễn Long, Đoàn Văn Toại v.v... Các phong trào sinh viên như Du Ca, các chương trình như CPS Học Đường Mới, Chương Trình Phát Triển Quận 8, các chương trình nghiên cứu về nhiều phương diện cá biệt như nhóm Speaking English Club, Nhóm Vạn Vật, Nhóm Việt Hán, Nhóm Toán v.v... Của Đại học Sư Phạm lần lượt ra đời. Nhóm Sử Địa do ông Nhuyễn Nhã thành lập xuất hiện trong bối cảnh chính trị xã hội đó. Nghiêm chỉnh và có tầm vóc của một tập san nghiên cứu có chiều sâu.

Nhưng để có thể in thành sách đàng hoàng, theo ông Nhuyễn Nhã là nhờ sự tài trợ chi phí ấn loát của ông giám đốc nhà sách Khai Trí, tức là ông Nhuyễn Văn Trương. Sau 1975, cộng sản chiếm nhà sách Khai Trí, tịch thu các kho sách của ông Trương và đặt tên ông trên một con đường nhỏ. Không có ông khai Trí, Tập San Sử Địa (TSSĐ) khó có cơ hội được xuất bản đều đặn, lâu dài. Ngoài ra, còn có sự chấp thuận và giúp đỡ của Khoa trưởng Đại học Sư Phạm Sài gòn thời đó là giáo sư Trần Văn Tấn. GS Tấn đã cho Tập san Sử Địa mượn một phòng của trường ĐHSP làm văn phòng

Cũng theo lời ông Nguyễn Nhã, lúc khởi đầu, ông có mời giáo sư Tôn Thất Dương Ky làm chủ bút. Ông Tôn Thất Dương Ky đã nhận lời. Nhưng ít lâu sau ông Kỵ bị chính quyền Sài gòn trục xuất ra Bắc. Cuối cùng, ông Nhuyễn Nhã đành kiêm nhiệm chức chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ TSSĐ.

Sự kiện ông Tôn Thất Dương Kỵ được mời làm chủ bút cùng với những tên tuổi khác như Hoàng Xuân Hãn, Sơn Nam, Trương Bá Cần, Đông Tùng, chúng ta có thể nhận thấy xu hướng nghiêng một cách kín đáo về phía cộng sản của nhóm này. Điều này được ông Chủ nhiệm Nguyễn Nhã thừa nhận sau 1975 trong một cuộc phỏng vấn.


     Số Ra Mắt Tập San Sử Địa (1966)
Vào ngày 27-2-1966, Tập San Sử Địa số 1 ra đời. Đây là tam cá nguyệt san, ba tháng ra một kỳ và cho đến 1975, có được 29 số báo trong đó có nhiều số có chủ đề như Chiến thắng Đống Đa, số 1, về Phan Thanh Giản, số 7, Đặc khảo về Quang Trung số 9 và số 10, số đặc biệt về Nguyễn Trung Trực, số 12, 200 năm phong trào Tây Sơn, số 21. Chúng tôi sẽ cho trích đăng một phần tài liệu của những số báo này. Nhất là nhật ký du hành sang Pháp của cụ Phan Thanh Giản với nhiều chi tiết rất thú vị, đồng thời những cảm tình của người Pháp khi cụ Phan Thanh Giản qua đời.

Ngoài ra còn có các số đặc biệt về phong tục Tết VN và các lân bang, số 5, hai số đặc biệt chủ đề về cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, tập 19-20, tháng 12- 1970 đặt ra nhiều vấn đề như khẩn hoang(Sơn Nam), Di tích Chiêm Thành (Trần Nhân Tâm),Những người Việt tiền phong trên bước đường Nam Tiến (Lê Hương), Thư tịch về cuộc Nam Tiến (Trần Anh Tuấn), Sự thôn thuộc và khai thác đất Tầm Phong Long, chặng cuối cùng của cuộc Nam tiến (Nhuyễn Văn Hầu), Lịch sử cuộc Nam tiến của dân tộc VN (Phù Lang Trương Bá Pháy), Vài nét về văn học nghệ thuật VN trên đường Nam tiến (Nhuyễn Văn Xuân). Số chót 29, tháng 3-1975, trước khi miền Nam bị mất, một số báo rất quan trọng cho ngày nay. Đó là đặc khảo về Hoàng Sa và Trườnng Sa với rất nhiều chứng liệu như: Phúc trình về công tác nghiên cứu phốt phát lần cuối cùng của Trần Hữu Châu. Phúc trình về cuộc thám sát hòn Nam Ýt vào năm 1973 của Trịnh Tuấn Anh. Thái Văn Kiểm với những sử liệu Tây Phương về chủ quyền VN về quần đảo Hoàng SaNhững sử liệu chữ Hán minh chứng chủ quyền của VN của Hãn Nguyên. Hoàng Sa dưới mắt nhà địa chất H. Fontaine (tên tiếng Việt là cha Phòng), Hoàng Sa qua tài liệu của Hội truyền giáo Ba Lê của Nhuyễn Nhã. Các văn kiện chính thức xác nhận chủ quyền VN từ thời Pháp thuộc, Ông bà Trần Đăng Đại. Hoàng Sa qua những nhân chứng của Trần Thế Đức.

Các số chủ đề này không dễ thực hiện, nhiều khi đó là công trình nghiên cứu của cả một đời người, đòi hỏi nhiều nhân lực và thì giờ. Vì thế, ba tháng TSSĐ miền Nam mới ra được một số. Nhưng phần phẩm chất phong phú và trung thực quan trọng cho mỗi số báo, nhóm TSSĐ miền Nam đã giữ được và là một công trình văn hoá xứng đáng để lại cho đời sau. Tập san Sử Địa miền Nam đã có một cố gắng và một nỗ lực không ngưng nghỉ để tồn tại cho đến 1975.

Mittwoch, 17. August 2016

LÊ DUẨN

 LÊ DUẨN

Ông Lê Duẩn là người Tổng bí thư lâu nhất  Từ 1960 đến 1976.ông mất 1986
Ông có 2 người vợ là :
  1. Bà Lê Thị Sương (25 tháng 12 năm 1910 - 6 tháng 8 năm 2008) kết hôn năm 1929 ở quê. Có bốn người con:
    • Lê Hãn (sinh 1929), tên thường dùng là Lê Thạch Hãn, Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Quản lý các nhà trường Quân đội, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nghỉ hưu; Ông Lê Hãn cưới bà Nguyễn Khánh Nam (con gái đầu lòng của ông Nguyễn Khánh Mỹ, Vụ trưởng Vụ khu vực I, phụ trách các nước XHCN, Bộ Ngoại thương lúc bấy giờ - NV) và có 3 người con: Lê Khánh Hải hiện là Thứ trưởng thường trực bộ VHTT và Du lịch, Lê Khánh Hưng và Lê Ngọc Hiếu.
    • Lê Thị Cừ có chồng là Lê Bá Tôn (Cán bộ lãnh đạo của Bộ Công nghiệp nặng).
    • Lê Tuyết Hồng có chồng là Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại;
    • Lê Thị Diệu Muội (1940-2008), Phó Giáo sư, Tiến sĩ sinh vật học.
  2. Bà Nguyễn Thụy Nga (tên thường gọi Nguyễn Thị Vân hoặc Bảy Vân),[14] kết hôn năm 1950 tại miền Tây Nam Bộ, do Lê Đức Thọ làm mối, Phạm Hùng làm chủ hôn. Sau 1975, bà Nga làm Phó ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang, Phó Tổng Biên tập Phụ trách Hành chính trị sự của Báo Sài Gòn Giải phóng. Hiện bà sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Hai người có ba người con:
    • http://a8.vietbao.vn/images/vn2/phong-su/20589539_images1030611_bocon.jpg
    • Lê Vũ Anh, kết hôn với giáo sư toán học Viktor Maslov người Nga ở Moskva, mất năm 1981 do băng huyết khi sinh đứa con thứ ba (là con trai); cả 3 người con của bà sau này đều lớn lên và ăn học ở Nga, nhưng hiện tại đều làm việc tại Anh.
      • Lê Kiên Thành (sinh 1955), học kỹ sư hàng không tại Liên Xô, sau đó là Phó Tiến sĩ vật lý. Khi về nước chuyển ngành sang kinh doanh, đã từng là Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Kỹ thương Techcombank, hiện là Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Xây dựng và phát triển đô thị; Chủ tịch HĐQT Công ty CP Chế biến Thực phẩm Thái Minh; chủ một sân golf và là Phó Chủ tịch thường trực Hội   
      • Lê Duẩn và các con trai
    • Ông có hai người vợ:           Golf Việt Nam. Ông còn là thành viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh.
    • Lê Kiên Trung (sinh 1958), Cục trưởng Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh (từ tháng 12 năm 2007). Hiện là Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh II- Bộ Công an (2011).

Mittwoch, 6. Juli 2016

Ngã Ba Ông Tạ

Khu Ông Tạ 

Sài Gòn có nhiều địa danh có liên quan đến nhân vật như: ngã ba Ông Tạ, ngã ba Chú Ía, cầu Bà Ðô, chợ Bà Hoa...

Cầu Bà Ðô nằm gần cuối đường Bến Chương Dương, lâu ngày kênh rạch bồi lấp không còn nhìn ra hình dáng cây cầu nữa ngoại trừ một tấm bảng nhỏ bên đường. Ðịa điểm này sau 75 là nơi tụ tập của những người đi vượt biên, từ đây họ sẽ lên ghe xuôi rạch Bến Nghé ra cửa biển.
Chợ Bà Hoa ở trên đường Nguyễn Mai Ninh, thoạt tiên chỉ là khu chợ nhỏ của những người Quảng Nam di tản vào Saigon. Sau này khu dệt Bảy Hiền tấp nập, chợ Bà Hoa ngày càng nhộn nhịp, chật chội nhưng không còn chỗ nào mở rộng vì chung quanh nhà dân san sát, máy dệt chạy suốt ngày

Sonntag, 26. Juni 2016

trận Ban Mê Thuột 1975


Nhân kỷ niệm 30 năm ngày chiếm Ban Mê Thuột, trong một cuộc phỏng vấn đăng trên nhật báo Nhân Dân của Đảng Cộng sản Việt Nam số ra ngày 10/3/1975, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, đã nói rằng sở dĩ Buôn Ma Thuột được lựa chọn vì đây là điểm mà lực lượng miền Nam Việt Nam ít chú ý hơn, có nhiều sơ hở và thuận lợi cho các đơn vị lớn hoạt động. Hơn nữa, miền Nam Việt Nam và cả các cố vấn Mỹ vẫn tin rằng miền Bắc chưa đủ sức đưa quân vào Buôn Ma Thuột vào thời điểm đó.

Khi được đài BBC phỏng vấn, Tướng Thảo trả lời còn tệ hơn, ông chỉ lặp lại những luận điệu bố lếu bố láo cũ đã lỗi thời khiến người nghe phải bực mình. Điều này cũng dễ hiểu thôi: Tướng Hoàng Minh Thảo là cấp thừa hành, chỉ đâu đánh đó, có trình độ văn hóa thấp và chỉ có tầm nhìn chiến thuật, nên không thể biết được kế hoạch của Bộ chính trị và Quân ủy trung ương ở Hà Nội như thế nào.

Cách đây 25 năm, khi mới đến Hoa Kỳ, chúng tôi đã viết một bài đầu tiên về trận đánh Ban Mê Thuột đăng trên báo Thời Luận ở Los Angeles, căn cứ vào các cuộc phỏng vấn các nhân chứng ở trong tù. Bài đó đã làm đảo ngược lại cách nhìn về những ngày ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Trước đó, một số người đi trước, nhất là Phạm Huấn, cứ nghĩ rằng các nhân chứng sẽ không bao giờ tới được đất Mỹ, nên đã viết phịa sử một cách thoải mái!
Nay đã 40 năm, thời gian đủ để cho chúng ta sưu tầm tài liệu, gạn lọc và suy nghĩ để trình bày lại vấn đề một cách chính xác hơn.

Dienstag, 21. Juni 2016

Sonntag, 24. April 2016

“Văn nghệ sĩ và việc tham gia xây dựng nhân cách con người” thì phải lo việc “xây dựng nhân cách văn nghệ sĩ”.

nhà báo, nhà thơ
VƯƠNG TÂN

thực hiện: Lê Thị Huệ


Vương Tân là nhà báo, nhà thơ  đặc biệt có gốc gác, giềng mối quen biết và thân cận với một số thành phần cầm bút, thành phần quân đội, thành phần chính trị quan trọng của chế độ Sài Gòn Miền Nam Quốc Gia 1954 – 1975

gio-o.com hân hạnh giới thiệu bạn đọc cuộc phỏng vấn thú vị với nhà thơ nhà báo Vương Tân (lth)


Lê Thị Huệ: Xin ông cho biết các đường nét chính trong đời sống của ông.

Vương Tân: Tôi sinh  ra tại thị xã Sơn Tây quê cha tôi, ông già tôi là một công tử con quan nhưng không thích làm quan. Lúc nhỏ học chữ nho, tuy nhiên đến tuổi tới trường thì lại vừa học trường Tây vừa học chữ nho.  Tôi tên khai sinh là Lê Nguyên Ngư, cha tôi tên Lê Nguyên Long, cha tôi là em của Lê Nguyên Thăng (ông nội tướng Việt Nam Cọng Hòa Lê Nguyên Khang), và cũng là em Lê Nguyên Úc (ông nội tướng Lê Nguyên Vỹ người tuẫn tiết ngày 30 tháng 4, 1975  ngay sân cờ Sư Đoàn 5).  Mẹ tôi tên Nguyễn Thị Nhung, một tiểu thư con quan ở làng Yên Mẫn ngay thị xã Bắc Ninh. Mẹ tôi là cô của tổng giám đốc nha Thông Tin Báo Chí Nguyễn Ngọc Linh.