Mittwoch, 30. Juli 2014

Nhìn lại phong trào BAJARAKA

Nhằm bổ sung thêm thông tin lịch sử cho tiêu đề đang gây chú ý trên trang Diễn đàn của Ban Việt Ngữ đài BBC, chuyên gia dân tộc học Nguyễn Văn Huy từ Paris đã gửi bài ghi lại các nghiên cứu của bản thân quanh vấn đề này, bắt đầu từ giai đoạn mâu thuẫn sắc tộc giữa người Thượng và người Kinh sau trận Điện Biên Phủ:
Người Thượng ở cao nguyên
Con đường người Thượng đã đi qua đầy chông gai
Hiệp định Genève 1954 mở đầu một giai đoạn hợp tác mới giữa người Thượng và người Kinh trên cao nguyên, nhưng sự hợp tác này đã diễn ra không tốt đẹp như mong muốn, người Kinh chưa quen sinh hoạt bình đẳng với người Thượng và ngược lại.
Bất hạnh lớn của người Thượng trong giai đoạn 1954-1975 là nơi sinh trú của họ có một tầm quan trọng chiến lược trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai, bất cứ phe tranh chấp nào cũng đều muốn làm chủ địa bàn chiến lược này và lôi kéo cộng đồng người Thượng theo họ chống lại phe kia.
Tùy theo những lượng định thời cuộc khác nhau, cộng đồng người Thượng đã có những phản ứng khác nhau để rồi dẫn đến cùng một hậu quả: người Thượng không có tiếng nói trên chính quê hương của họ.


Việt Nam sẽ đi về đâu với kinh tế Trọng Thương, tư bản nhà nước và xã hội thị Trường

Việt Nam sẽ đi về đâu? Đó là câu hỏi chung của những người ưu tư thời cuộc khi đất nước đang đối diện với đủ loại thách thức nghiêm trọng và những thành tựu đầy ấn tượng của Đổi Mới không còn nữa. Kinh tế Trọng Thương, tư bản thân tộc và xã hội thị trường là ba đặc thù quen thuộc trong định hướng XHCN làm cho con đường đưa tới thịnh vượng thêm xa, nhưng sẽ tác động đến nhiều chuyển biến mới lạ khó lường cho tương lai bất hạnh của đất nước.
Kinh tế Trọng Thương
"Phi thương bất phú" là một câu nói của người Á Đông mà không hề gây tranh cải. Trong kinh tế học của phương Tây cũng có lý thuyết Trọng Thương của Thomas Mun với lập luận tương tự: „thương mại đem lại thịnh vượng cho đất nước“. Cụ thể là chính quyền phải đẩy mạnh xuất khẩu để thu nhập vàng bạc càng nhiều càng tốt và không coi trọng việc nhập khẩu thương phẩm phục vụ giới tiêu thụ.

Tại sao phải viết lại lịch sử FULRO ?

 Vấn đề mâu thuẫn sắc tộc tại Việt Nam cho đến nay vẫn còn nằm trong chương mục “nhạy cảm chính trị” – ít người dám nói và cũng ít người dám tìm hiểu kỹ ; nên điều đó tạo ra nhận thức mơ hồ về vai trò của các sắc tộc thiểu số trong cùng đất nước. Bài viết dưới đây là diễn văn của PGS.TS Po Dharma nhân dịp công bố ấn phẩm “Từ FLM đến FULRO : cuộc đấu tranh của dân tộc thiểu số miền Nam Đông Dương 1955 – 1975” (Du FLM au FULRO : une lutte des minorités du sud indochinois, 1955 – 1975) vào ngày 19.4.2008, tại hội trường Nhật báo Viễn Đông – Westminster (tiểu bang California, Mỹ). Trên tư cách cựu sĩ quan cấp cao của FULRO, ông Po Dharma trình bày những am tường về phong trào chính trị – quân sự này, đồng thời nêu quan điểm về cách đặt vị trí của FULRO trong lịch sử. Phải thừa nhận, đây là phong trào sắc tộc thiểu số có biên độ rộng nhất về không gian cũng như thời gian, nhưng không nhiều người từng đặt câu hỏi về căn nguyên, sức ảnh hưởng và hệ quả mà nó mang lại. Phần nhiều sự biết và sự hiểu về thời kỳ đấu tranh của FULRO đều qua lăng kính của báo giới trong nước – những tổ chức truyền thông đã dệt nên hình ảnh FULRO chỉ là “tập đoàn tội phạm”, “bọn phản động lưu vong chống phá chính quyền nhân dân, phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước”.

Dienstag, 29. Juli 2014

Cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung

Sự hình thành cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung
LTS: Tìm hiểu lịch sử những cộng đồng dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam là một bổ túc cần thiết cho mọi dự án xây dựng Việt Nam tương lai. Lần này Nguyễn Văn Huy, qua bốn bài viết, tóm lược sự hình thành cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung, những phong trào phản kháng của người Thượng trong thời Pháp thuộc và dưới các chế độ chính trị của Việt Nam, để hiểu và nâng đỡ những đồng bào đang chia sẻ mảnh đất Việt Nam chung.

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI TÂY NGUYÊN TRƯỚC NĂM 1954

Lâu nay nói đến lịch sử Tây Nguyên, chúng ta thường chỉ gặp những bài viết của các nhà khoa học người Kinh, cũng chưa hề có một sử liệu nào được coi là nguồn gốc chính mà hầu như chỉ là các phỏng đoán. Qua sự tìm kiếm của một ” nhà sử học Êđê tương lai”, tôi gửi đến các bạn bài viết của Yă Bloh một tác giả người dân tộc Tây Nguyên cư trú ở nước ngoài. Có lẽ đây là tư liệu đầu tiên do chính người thiểu số TN viết về mình. Cũng chỉ là tài liệu để tham khảo cho ” rộng đường dư luận” , bởi mỗi người một quan điểm, một cách nhìn. Cám ơn bạn Y. S đã gửi đến.
Lãnh thổ miền trung Việt Nam, bao gồm cả vùng đồng bằng duyên hải và cao nguyên, chạy dài từ Quảng Bình đến địa phận Biên Hòa. Vùng đất này trước kia thuộc vương quốc Champa, được hình thành vào cuối thế kỷ thứ 2, mang nhiều ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ.

Hoàng Lê nhất thống chí (Phần 3)

Hồi 11
Tây Sơn lại kéo vào thành chiếm giữ đất nước
Chiêu thống ba phen tính chước khôi phục kinh đô
 
Lại nói, vua Lê thân hành tới xem diễu võ ở núi Vạn Kiếp. Nhà vua ngự ở đền Trần Hưng Đạo, gọi Châu đến và hỏi:
- Có được mấy trăm quân?
Châu đáp:
- Trừ số người mới theo về, thủ hạ tinh luyện của thần chỉ có trăm người mà thôi!
Vua nói:
- Tiếc rằng ít quá!
Châu đáp:
- Quân cần tinh nhuệ không cần nhiều. Có trăm quân cảm tử, cũng đã đủ để hoành hành trong thiên hạ. Thần đã từng thử, quân giặc có lúc kéo tới đầy cả đồng, thần chỉ sai vài chục người xông đến trước trận, múa dao chém bừa, không lần nào giặc không tan vỡ.

Hoàng Lê nhất thống chí (Phần 2)

Hồi thứ bảy

Phò Lê đế, đạo Vũ thành lại ra quân
Đốt Trịnh cung, chúa án đô phải bỏ nước.

 
Lại nói, Thạc quận công (Hoàng Phùng Cơ) sau khi thua trận ở cửa Thuý ái, liền chạy về vùng Hưng Hoá, nương nhờ ở nhà một phiên mục là Đinh Công Hồ. Kịp khi nghe tin quân Tây Sơn đã rút về Nam, quận Thạc bèn tới trấn Sơn Tây, thu nhặt binh lính để về bảo vệ kinh thành. Khi ấy hoàng thượng vẫn thường cho người qua lại chỗ quận Thạc, vua tôi rất là ăn ý với nhau.
Đến lúc này được tin quận Thạc đã tới, nhà vua liền sai ông ta đem quân vào đóng ở cửa ô Trường Bắn để bảo vệ hoàng thành. Lúc vào thành, quận Thạc đến lạy chào nhà vua, rồi sau mới ra chào án đô vương.

Hoàng Lê nhất thống chí (Phần 1)


Hồi thứ nhất
Đặng Tuyên Phi được yêu dấu, đứng đầu hậu cung
Vương Thế Tử bị truất ngôi, ra ở nhà kín.
Triều Lê Trang tông Dụ hoàng đế (Tức Lê Trang Tông, tên là Duy Ninh (1533-1548). Các chú thích từ đây trở đi đều của người dịch) trung hưng cơ nghiệp ở sông Tất Mã (Tức sông Mã ở Thanh Hoá). Bấy giờ Thế tổ Minh khang thái vương Trịnh Kiểm làm phụ chính, giúp vua dẹp yên được đảng họ Mạc và trở lại kinh đô cũ. Rồi từ đó, họ Trịnh đời đời kế tiếp tước vương, nắm giữ hết quyền bính trong tay, hoàng gia mỗi ngày một suy yếu dần.
Truyền đến đời Hiển tông Vĩnh hoàng đế, niên hiệu Cảnh hưng (1740-1786), thì Thánh tổ Thịnh vương (Tức Trịnh Sâm, mới lên ngôi chúa) chuyên quyền cậy thế, làm oai làm phúc; vua Lê chỉ còn biết chắp tay rủ áo mà thôi.

Về những cái của các vị Vua của Việt Nam !


Về các vua

Sonntag, 27. Juli 2014

LƯỢC SỬ TRƯỜNG BỘ BINH

  
Hiệp Định Genève ngày 20-7-1954 chia đôi Việt Nam. Miền Nam do chính phủ Quốc Gia quản lý, dần dần trở thành một Quốc Gia riêng biệt với danh xưng Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1956. Quân Đội Quốc Gia Việt Nam cũng cải danh thành Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. 
Trường Bộ Binh là danh xưng sau cùng của Trường Sĩ Quan Thủ Đức thành lập ngày 9-10-1951 để đào tạo Sĩ Quan Trung Đội Trưởng thuộc ngạch Trừ Bị cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Lúc đầu Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức đặt dưới quyền chỉ huy của các Sĩ Quan Pháp. Vài năm sau mới chuyển giao cho Việt Nam. Vị Sĩ Quan Việt Nam đầu tiên làm Chỉ Huy Trưởng Trường Bộ Binh là Đại Tá Phạm Văn Cảm. 

I. TIỂU SỬ TRƯỜNG BỘ BINH: 
Tiền thân của Trường Bộ Binh bắt đầu từ TRƯỜNG SĨ QUAN THỦ ĐỨC và TRƯỜNG SĨ QUAN NAM ĐỊNH. 
Tháng 10-1951. Một cuộc chiến tranh do Việt Minh chủ trương mỗi ngày càng gia tăng cường độ. Để đáp ứng nhu cầu sĩ quan chỉ huy cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam đang trên đà bành trướng, Trường Sĩ Quan Thủ Đức được thành lập song song với Trường Sĩ Quan Nam Định tại Bắc phần. 
Một năm sau, Trường Sĩ Quan Nam Định tại Bắc phần huấn luyện xong Khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị, được sáp nhập vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức để trở thành quân trường duy nhất đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam.