Montag, 28. April 2014

Một Nhân Cách Lớn Của Saigon

                                                                                              Dung Dang

Vào năm 1978, khi việt cộng trả lại “quyền công dân” cho Dương Văn Minh, các anh em đang bị tù “học tập cải tạo” đều bị đi xem hình ảnh và phim chiếu lại cảnh cựu “Tổng Thống” Dương Văn Minh đang hồ hỡi hân hoan đi bầu quốc hội “đảng cử dân bầu” của cộng sản.

Cụ Trần Văn Hương cũng được cộng sản trả lại “quyền công dân” nhưng Cụ đã từ chối. Cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Trần Văn Hương đã gửi bức thư sau đây đến các cấp lãnh đạo chính quyền cộng sản:


“…hiện nay vẫn còn có m...ấy trăm ngàn nhơn viên chế độ cũ, cả văn lẫn võ, từ Phó Thủ Tướng, Tổng Bộ Trưởng, các Tướng Lãnh, Quân Nhân Công Chức các cấp các Chính Trị Gia, các vị Lãnh Đạo Tôn Giáo, Đảng Phái đang bị tập trung cải tạo, rĩ tai thì ngắn hạn mà cho đến nay vẫn chưa thấy được được về.

Tôi là người đứng đầu hàng lãnh đạo Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa, xin lãnh hết trách nhiệm một mình. Tôi xin chính phủ mới thả họ về hết vì họ là những người chỉ biết thừa hành mạng lệnh cấp trên, họ không có tội gì cả.
 
Tôi xin chính phủ mới tha họ về sum họp với vợ con, còn lo làm ăn xây dựng đất nước.
Chừng nào những người tập trung cải tạo được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi." 



Cụ Trần Văn Hương không hề nhận “quyền công dân” của cộng sản và cho đến khi từ trần vào năm 1981 thì Cụ vẫn còn là công dân của Việt Nam Cộng Hòa.

VNCH: Từ lúc Hoa Kỳ tham chiến đến khi Sài Gòn sụp đổ

                                                                                                            Vann Phan
Sự suy đồi trong tình hình chính trị và quân sự tại Miền Nam Việt Nam sau vụ lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã làm cho chính phủ và nhiều giới chức các cấp tại Ngũ Giác Ðài bên Mỹ phải lo ngại. Sau vụ ám sát Tổng Thống Kennedy, chỉ ba tuần sau cái chết của Tổng Thống Diệm, Tổng Thống Lyndon B. Johnson, lên kế nhiệm, đã quyết định phải có thêm nỗ lực chận đứng việc Cộng Sản chiếm được Miền Nam Việt Nam. Và chính quyền của vị tân Tổng Thống khởi sự nghiên cứu cách thế gởi quân chiến đấu Hoa Kỳ đến đó. 


Cái Chết Của Cha Tôi

                                                                                                           Giao Chỉ,  San Jose.
Cái Chết Của Cha Tôi
Vẫn chuyện tượng đài.
Cô Hoàng Mộng Thu của biệt đoàn Lam Sơn vừa lên radio thông báo về việc San Jose thực hiện bức tường tưởng niệm các vị anh hùng Việt Nam Cộng Hòa tuẫn tiết. Trong 7 vị anh hùng dự án lựa chọn có hình ảnh của trung tá cảnh sát Nguyễn văn Long. Hình ảnh do 1 thân hữu gửi đến. Sinh quán chưa biết rõ, năm sinh chưa tìm ra. Bỗng một hôm có người gọi cho cô Thu. Thân nhân của ông Long là chúng tôi đây. Hình này không chắc là hình của cha tôi. Bà là ai vậy? Tôi là con gái của ông Long. Thưa bà ở đâu gọi vậy. Tôi ở San Jose đây này. Tôi ở đây đã 11 năm rồi.
Bức tường tưởng niệm sẽ dựng tại San Jose và hình ảnh lịch sử tại Sài Gòn, trung tá Nguyễn Văn Long tự sát tại tượng đài TQLC VN.
Cô Thu bèn điện thoại cho bác Lộc. Chết rồi bác ơi. May mà mình còn đang quyên tiền. Chưa làm hình trên đá. Hình đó không phải của ông Long. Con gái ông nói chuyện với cháu đây này. Nhưng chuyện không hay mà lại thành duyên kỳ ngộ. Tìm kiếm bao năm nay để xin tin tức, bây giờ gặp may. Tôi phải liên lạc gấp với gia đình trung tá Long ngay tại San Jose.

Sơ đồ hình ảnh chiến trường cuộc chiến biên giới phía Bắc 1979

Sonntag, 27. April 2014

Hình ảnh Chiến tranh Việt-Trung 1979

 Nguồn: foto-history
Kichbu posted on 15.01.2013
Vào tháng Một năm 1979, người Việt Nam lật đổ chế độ Khme Đỏ thân Trung Quốc. Cũng vào tháng Một năm 1979, những người cộng sản Việt Nam với chủ nghĩa dân tộc không nhỏ đã xua đuổi cộng đồng người Hoa từ lâu sinh sống ở các thành phố và phía Bắc ra khỏi Việt Nam.


Đáp lại, những người cộng sản Trung Quốc, cũng với chủ nghĩa dân tộc không nhỏ, tối ngày 16 tháng Hai năm 1979 đã tấn công biên giới Việt Nam.


Freitag, 25. April 2014

Văn Hóa Người Việt Qua Tên Họ


I. Lược Sử

Nghiên cứu tất cả hệ thống tên họ các dân tộc trên thế giới cho thấy người Việt có lẽ là một dân tộc đầu tiên, cùng với người Trung Hoa và Đại Hàn, có một hệ thống tên họ đơn giản và hợp lý nhất. Người Nhật mãi đến năm 1872 mới được quyền có họ, trước đó chỉ có các ngài đại-danh (samourais) là có đặc quyền đó. Theo lịch sử Trung quốc, việc đặt họ tên bắt đầu từ năm 2852 trước Công nguyên, khi vua Phục Hi ra lệnh bắt dân chúng phải có một "gia tính" hay"tộc tính" để phân biệt các hệ phái gia đình và định phép tắc hôn nhân. Đến thế kỷ thứ V trước Công nguyên ở Trung quốc đã có hai loại "gia tính" được dùng: "tính" là họ gốc, do cha truyền con nối hoặc do vua ban, và dành cho nam giới; "thị" là họ cành, tức tên đặt khi mới sanh dùng cho cả nam lẫn nữ. Giới quý tộc vừa có Tính vừa có Thị, dân giả thì chỉ có tính. Từ đó phát xuất thành ngữ "bá tính" hoặc "bách tính". Con trai đàn ông xưng "thị" để phân biệt sang hèn, phụ nữ xưng "tính" để phân biệt hôn nhân.

Donnerstag, 24. April 2014

Nam Bắc Phân Tranh Sau 1975

Không ai có thể xóa bỏ một đoạn đời mà mình kiêu hãnh, vì thế sự ngăn cách của hai thế hệ trưởng thành sau 1954, đã từng, dù không hoàn tòan tự nguyện, tham gia vào cuộc chiến nam bắc phân tranh 1954-1975 là một điều tự nhiên. 35 năm sau ngày đất nước thống nhất về mặt địa dư, không những sự phân cách trong lòng người vẫn còn mà đôi khi còn tiến tới sự phân tranh không kém mãnh liệt. Chính bởi thế ngay trong tập thể những người Việt bỏ nước ra đi trốn chế độ cộng sản cũng có sự phân tranh mãnh liệt giữa người Việt miền bắc và người Việt miền nam.
Trong thời gian tôi ở trại tị nạn Màn Dìn ở Hồng Kông (1989), trong trại có xuất bản bản tin hàng tuần. Một hôm ban lãnh đạo hội cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa trong trại  mà chủ tịch là cựu thiếu tá Hùng, khóa 20 Võ Bị, hiện ở Nam Cali, cho người mời tôi tới họp khẩn. Khi tới nơi anh em cho biết trong số báo sắp ra tuần này có một bài của mấy người miền bắc chửi anh em cựu quân nhân VNCH và hỏi ý kiến tôi xem sẽ phải đối phó ra sao. Suy nghĩ một hồi tôi nói để tôi gặp ông đại diện cao ủy tị nạn nói chuyện với ông ta xem sao. Trong văn phòng cao ủy của trại, ngoài ông cao ủy còn thì nhân viên là thuyền nhân, trong đó có cả thuyền nhân miền bắc. Những thuyền nhân làm trên mấy văn phòng của trại hay văn phòng cao ủy đa số là thông dịch viên (interpreter).  Thông dịch viên có thể nói là những “viên chức tị nạn cao cấp nhất” trong trại, là những người có ảnh hưởng rất lớn tới các chương trình của trại. Bởi thế mấy thông dịch viên người miền bắc mới đưa mấy bài chửi các cựu quân nhân VNCH vào tờ báo. Những thông dịch viên người miền nam không muốn (hay không dám) trực tiếp cá nhân đương đầu với mấy thông dịch viên miền bắc vì sợ đầu gấu miền bắc trả thù nên thông báo tin tức để hội cựu quân nhân có kế hoạch đối phó.

Montag, 21. April 2014

Khách Sạn CONTINENTAL Tại SÀIGÒN

 Continental Saigon, Philippe Franchini, Olivier Orban 1976


Từ thập niên 1880 đến cuối Thế Chiến II, cuộc chinh phục của thực dân đã xác định các trục du lịch hải ngoại và từ đó địa dư của các đại khách sạn (“Các Cung Điện Phương Đông: Palaces d’Orient” 1 tại các thuộc địa của Anh và Pháp ở Đông Phương.  Giống như Khách Sạn Raffles tại Singapore, Peninsula tại Penang, và Grand Hotel tại Calcutta, Khách Sạn Continental tại Sàigòn đã hợp lý hóa sự du lịch tại các thuộc địa và khắc họa “tính Âu Châu” bằng sự thoải mái, tiện lợi và biện biệt.  Ngày nay, sau nhiều năm lãng quên, khách sạn Continental truyền thoại trên đường Catinat một lần nữa hiển thị trên bản đồ du lịch của thành phố Sàigòn. 2  Như các bài phê bình của Norindr (1996) và Peleggi (1966) đã vạch ra, “các cơn buồn nhớ thuộc địa” hay “nỗi hoài niệm thuộc địa” đã uốn nắn nhiều khía cạnh của văn hóa tiêu thụ toàn cầu đương đại, bao gồm thức ăn, thời trang và chiếu bóng (cinema).  Vì thế không có gì ngạc nhiên rằng trong một thời đại hậu đổi mới [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch], Continental Hotel, giống như các khách sạn thời thuộc địa khác, đã được “đền đài hóa”(Peleggi, 2005) cho sự tiêu dùng du lịch, đã được tái nâng cấp về mặt kiến trúc và bàu không khí “đặc sắc thời thực dân” đã được tái tạo nhằm lôi cuốn giới du khách tìm kiếm sự hoài niệm thời thuộc địa trong thế kỷ thứ hai mươi mốt. 3  Bài viết này đi lùi lại một bước trong thời gian và tái bố trí đại khách sạn này vào một kỷ nguyên khi mà định chế thuộc địa này đã không chỉ phát động kỹ nghệ du lịch tại Đông Dương mà còn tiêu biểu cho sự đan kết vào nhau một cách phức tạp giữa du lịch và khát vọng thực dân. 4

Freitag, 18. April 2014

Thủy chiến Thị Nại, 1801



 haichien

I. Bối cảnh lịch sử

Rất nhiều người đã đọc Tam Quốc Chí và gần đây hơn là xem bộ phim Xích Bích, chúng ta – những người Việt trẻ – hẳn đã hiểu rất nhiều về bối cảnh cũng như diễn biến của cuộc chiến này. Khi xem bộ phim Xích Bích tại rạp, tôi chợt liên tưởng đến trận chiến Thị Nại – một trận chiến cũng vĩ đại không kém, cá nhân tôi cho rằng trận chiến này còn có nhiều chi tiết hay hơn cả trận Xích Bích. Với trận Xích Bích, chúng ta chỉ thấy phần nhiều về những lợi ích cá nhân, những tài năng cá nhân, Chu Du và Gia Cát Lượng, cũng như Tào Tháo. Nhưng trong trận chiến Thị Nại, ngoài những tài năng quân sự, những chiến lược kiệt xuất – chúng ta còn có những câu chuyện đẹp như những thiên anh hùng ca về sự cao thượng, quân tử, về tình người đối xử với nhau dù ở 2 chiến tuyến.

Samstag, 12. April 2014

Nhạc Sĩ Anh Bằng- Một Đời Cho Âm Nhạc, nhìn lại sau hơn 50 năm sáng tác



Khi nghe CD “Anh Còn Yêu Em…” trình làng trong năm 2008 của Anh Bằng (phổ thơ Phan Thành Tài) cùng với “Khúc Thụy Du” (phổ thơ Du Tử Lê), chúng ta thấy mélody qua dòng nhạc của người nhạc sĩ từng trải mênh mang như sóng nhưng cũng trổi dậy căng tràn nhựa mới.

Người phụ trách nhạc yêu cầu trên SBTN-TV, Orchid Lâm Quỳnh cho biết “Anh Còn Yêu Em” là ca khúc top hit được yêu cầu liên miên trên truyền hình. Với lời thơ: “Anh còn yêu em, Nụ hôn sim tím, áo nhàu qua đêm” “Anh còn yêu em, như rừng lửa cháy, anh còn yêu em, như ngày xưa ấy, Anh còn yêu em, đường xanh ngực nở, Anh còn yêu em lồng tim rạn vỡ, anh còn yêu em, bờ vai mười sáu… Nồng nàn hương ấm ”, và “ Bạch đàn thâu đêm, Thầm thì tóc rũ … chiều xuống mờ sương, cửa đóng rèm buông- Gối kề bên gối, môi kề bên môi “… “ Buồm trăng dương cánh, khi biển triều lên, sóng xa êm đềm” “Anh còn yêu em- Chênh vênh mi buồn”, mélody của ca khúc này bắt được bằng những rung động của lời thơ, như chính Anh Bằng là người làm thơ, sống động như đó là nội dung cuộc sống của ông.