Freitag, 25. April 2014

Văn Hóa Người Việt Qua Tên Họ


I. Lược Sử

Nghiên cứu tất cả hệ thống tên họ các dân tộc trên thế giới cho thấy người Việt có lẽ là một dân tộc đầu tiên, cùng với người Trung Hoa và Đại Hàn, có một hệ thống tên họ đơn giản và hợp lý nhất. Người Nhật mãi đến năm 1872 mới được quyền có họ, trước đó chỉ có các ngài đại-danh (samourais) là có đặc quyền đó. Theo lịch sử Trung quốc, việc đặt họ tên bắt đầu từ năm 2852 trước Công nguyên, khi vua Phục Hi ra lệnh bắt dân chúng phải có một "gia tính" hay"tộc tính" để phân biệt các hệ phái gia đình và định phép tắc hôn nhân. Đến thế kỷ thứ V trước Công nguyên ở Trung quốc đã có hai loại "gia tính" được dùng: "tính" là họ gốc, do cha truyền con nối hoặc do vua ban, và dành cho nam giới; "thị" là họ cành, tức tên đặt khi mới sanh dùng cho cả nam lẫn nữ. Giới quý tộc vừa có Tính vừa có Thị, dân giả thì chỉ có tính. Từ đó phát xuất thành ngữ "bá tính" hoặc "bách tính". Con trai đàn ông xưng "thị" để phân biệt sang hèn, phụ nữ xưng "tính" để phân biệt hôn nhân.

Donnerstag, 24. April 2014

Nam Bắc Phân Tranh Sau 1975

Không ai có thể xóa bỏ một đoạn đời mà mình kiêu hãnh, vì thế sự ngăn cách của hai thế hệ trưởng thành sau 1954, đã từng, dù không hoàn tòan tự nguyện, tham gia vào cuộc chiến nam bắc phân tranh 1954-1975 là một điều tự nhiên. 35 năm sau ngày đất nước thống nhất về mặt địa dư, không những sự phân cách trong lòng người vẫn còn mà đôi khi còn tiến tới sự phân tranh không kém mãnh liệt. Chính bởi thế ngay trong tập thể những người Việt bỏ nước ra đi trốn chế độ cộng sản cũng có sự phân tranh mãnh liệt giữa người Việt miền bắc và người Việt miền nam.
Trong thời gian tôi ở trại tị nạn Màn Dìn ở Hồng Kông (1989), trong trại có xuất bản bản tin hàng tuần. Một hôm ban lãnh đạo hội cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa trong trại  mà chủ tịch là cựu thiếu tá Hùng, khóa 20 Võ Bị, hiện ở Nam Cali, cho người mời tôi tới họp khẩn. Khi tới nơi anh em cho biết trong số báo sắp ra tuần này có một bài của mấy người miền bắc chửi anh em cựu quân nhân VNCH và hỏi ý kiến tôi xem sẽ phải đối phó ra sao. Suy nghĩ một hồi tôi nói để tôi gặp ông đại diện cao ủy tị nạn nói chuyện với ông ta xem sao. Trong văn phòng cao ủy của trại, ngoài ông cao ủy còn thì nhân viên là thuyền nhân, trong đó có cả thuyền nhân miền bắc. Những thuyền nhân làm trên mấy văn phòng của trại hay văn phòng cao ủy đa số là thông dịch viên (interpreter).  Thông dịch viên có thể nói là những “viên chức tị nạn cao cấp nhất” trong trại, là những người có ảnh hưởng rất lớn tới các chương trình của trại. Bởi thế mấy thông dịch viên người miền bắc mới đưa mấy bài chửi các cựu quân nhân VNCH vào tờ báo. Những thông dịch viên người miền nam không muốn (hay không dám) trực tiếp cá nhân đương đầu với mấy thông dịch viên miền bắc vì sợ đầu gấu miền bắc trả thù nên thông báo tin tức để hội cựu quân nhân có kế hoạch đối phó.

Montag, 21. April 2014

Khách Sạn CONTINENTAL Tại SÀIGÒN

 Continental Saigon, Philippe Franchini, Olivier Orban 1976


Từ thập niên 1880 đến cuối Thế Chiến II, cuộc chinh phục của thực dân đã xác định các trục du lịch hải ngoại và từ đó địa dư của các đại khách sạn (“Các Cung Điện Phương Đông: Palaces d’Orient” 1 tại các thuộc địa của Anh và Pháp ở Đông Phương.  Giống như Khách Sạn Raffles tại Singapore, Peninsula tại Penang, và Grand Hotel tại Calcutta, Khách Sạn Continental tại Sàigòn đã hợp lý hóa sự du lịch tại các thuộc địa và khắc họa “tính Âu Châu” bằng sự thoải mái, tiện lợi và biện biệt.  Ngày nay, sau nhiều năm lãng quên, khách sạn Continental truyền thoại trên đường Catinat một lần nữa hiển thị trên bản đồ du lịch của thành phố Sàigòn. 2  Như các bài phê bình của Norindr (1996) và Peleggi (1966) đã vạch ra, “các cơn buồn nhớ thuộc địa” hay “nỗi hoài niệm thuộc địa” đã uốn nắn nhiều khía cạnh của văn hóa tiêu thụ toàn cầu đương đại, bao gồm thức ăn, thời trang và chiếu bóng (cinema).  Vì thế không có gì ngạc nhiên rằng trong một thời đại hậu đổi mới [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch], Continental Hotel, giống như các khách sạn thời thuộc địa khác, đã được “đền đài hóa”(Peleggi, 2005) cho sự tiêu dùng du lịch, đã được tái nâng cấp về mặt kiến trúc và bàu không khí “đặc sắc thời thực dân” đã được tái tạo nhằm lôi cuốn giới du khách tìm kiếm sự hoài niệm thời thuộc địa trong thế kỷ thứ hai mươi mốt. 3  Bài viết này đi lùi lại một bước trong thời gian và tái bố trí đại khách sạn này vào một kỷ nguyên khi mà định chế thuộc địa này đã không chỉ phát động kỹ nghệ du lịch tại Đông Dương mà còn tiêu biểu cho sự đan kết vào nhau một cách phức tạp giữa du lịch và khát vọng thực dân. 4

Freitag, 18. April 2014

Thủy chiến Thị Nại, 1801



 haichien

I. Bối cảnh lịch sử

Rất nhiều người đã đọc Tam Quốc Chí và gần đây hơn là xem bộ phim Xích Bích, chúng ta – những người Việt trẻ – hẳn đã hiểu rất nhiều về bối cảnh cũng như diễn biến của cuộc chiến này. Khi xem bộ phim Xích Bích tại rạp, tôi chợt liên tưởng đến trận chiến Thị Nại – một trận chiến cũng vĩ đại không kém, cá nhân tôi cho rằng trận chiến này còn có nhiều chi tiết hay hơn cả trận Xích Bích. Với trận Xích Bích, chúng ta chỉ thấy phần nhiều về những lợi ích cá nhân, những tài năng cá nhân, Chu Du và Gia Cát Lượng, cũng như Tào Tháo. Nhưng trong trận chiến Thị Nại, ngoài những tài năng quân sự, những chiến lược kiệt xuất – chúng ta còn có những câu chuyện đẹp như những thiên anh hùng ca về sự cao thượng, quân tử, về tình người đối xử với nhau dù ở 2 chiến tuyến.

Samstag, 12. April 2014

Nhạc Sĩ Anh Bằng- Một Đời Cho Âm Nhạc, nhìn lại sau hơn 50 năm sáng tác



Khi nghe CD “Anh Còn Yêu Em…” trình làng trong năm 2008 của Anh Bằng (phổ thơ Phan Thành Tài) cùng với “Khúc Thụy Du” (phổ thơ Du Tử Lê), chúng ta thấy mélody qua dòng nhạc của người nhạc sĩ từng trải mênh mang như sóng nhưng cũng trổi dậy căng tràn nhựa mới.

Người phụ trách nhạc yêu cầu trên SBTN-TV, Orchid Lâm Quỳnh cho biết “Anh Còn Yêu Em” là ca khúc top hit được yêu cầu liên miên trên truyền hình. Với lời thơ: “Anh còn yêu em, Nụ hôn sim tím, áo nhàu qua đêm” “Anh còn yêu em, như rừng lửa cháy, anh còn yêu em, như ngày xưa ấy, Anh còn yêu em, đường xanh ngực nở, Anh còn yêu em lồng tim rạn vỡ, anh còn yêu em, bờ vai mười sáu… Nồng nàn hương ấm ”, và “ Bạch đàn thâu đêm, Thầm thì tóc rũ … chiều xuống mờ sương, cửa đóng rèm buông- Gối kề bên gối, môi kề bên môi “… “ Buồm trăng dương cánh, khi biển triều lên, sóng xa êm đềm” “Anh còn yêu em- Chênh vênh mi buồn”, mélody của ca khúc này bắt được bằng những rung động của lời thơ, như chính Anh Bằng là người làm thơ, sống động như đó là nội dung cuộc sống của ông.

Samstag, 5. April 2014

Cái Tết miền Nam trong kí ức tuổi thơ



Mỗi độ cuối năm vào lúc tiết trời se lạnh, khi người lớn rục rịch  mua củ kiệu tươi về cắt, phơi khô ngâm một thố lớn để dành ăn ba ngày Tết, là tôi biết cái Tết cổ truyền sắp đến.
Củ kiệu tươi
Củ kiệu tươi
Phơi củ kiệu
Phơi củ kiệu, củ cải trắng chuẩn bị ngâm

Phở Sài Gòn xưa và nay

Phở         Nạc mỡ nữa làm chi, em nghĩ đã chín rồi, đừng nói với em câu tái giá !
    Muối tiêu không đáng ngại, lão thấy còn gân chán, hãy vui cùng lão miếng gầu dai !!!
Cũng như thịt chó, phở là một đặc sản của miền Bắc. Người ta cho rằng nó chỉ mới xuất hiện ở Saigon vào những năm 1951-1952, cùng một thời gian với hai nhà hát ả đào, một ở xóm Monceau và một ở xóm Đại Đồng.
Cả hai thứ ấy đều rất xa lạ với người Saigon thuở đó. Kiếm được một quan viên biết cầm trống chầu không phải chuyện dễ. Cho nên họ chỉ cầm cự được một hai năm rồi dẹp tiệm, mặc dù họ đã biến nó thành một hình thức như ”kem sờ” ở Bờ Hồ (Hà nội) vào những năm 30 hoặc như ”bia ôm” của Saigon hôm nay. Và phở cũng chịu chung một số phận với nó. Người ta chỉ thích hủ tíu, hoành thánh, bánh xếp nước… Chỉ có độc một tiệm phở được gọi là ”Phở Tuyệc”, nằm trên đường Turc (nay thuộc khu vực Đồng Khởi) là kiên trì bám trụ.

Sài Gòn Xưa – Người và Cảnh


Saigon_Marche-Việt Nam vào năm 1950 của ông Urbain CALESTROUPAT
Saigon_Marche-Việt Nam vào năm 1950 của ông Urbain CALESTROUPAT
Aigrettes_dans_parc Việt Nam vào năm 1950 của ông Urbain CALESTROUPAT

Nhìn lại nền Giáo dục VNCH : Sự tiếc nuối vô bờ bến




Sách giáo khoa thời VNCH
Sách giáo khoa thời VNCH
Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa là nhân bản, dân tộc, và khai phóng. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng “nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí”, “nền giáo dục đại học được tự trị”, và “những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn”.

Con người thật của Phạm Duy

pham-duyLời nói đầu
Nghĩa tử là nghĩa tận. Trước một “nhân vật của quần chúng” (a person of the public) vừa nằm xuống, giữ im lặng là thái độ nghiêm chỉnh nhất. Nhưng sự ra đi của Phạm Duy là một ngoại lệ. Nhiều người khen qúa độ. Nhiều người chê qúa lời. Nhiều người muốn khen, chê đúng mức mà không lên tiếng vì e ngại phản ứng của cả đôi bên. Đài BBC cũng tường thuật rất tỉ mỉ về đám tang của ông.
Hãy thử tìm con người đích thực của Phạm Duy qua tác phẩm, hành động và lời nói của ông để biêt nguyên do của cái dư luận ồn ào sau tin ông qua đời.