Montag, 24. März 2014

Tiến sĩ giấy – Một khái niệm mang ý nghĩa mới

                                                                                                                           Mai Quốc Ðạt
Gần đây một số tờ báo đưa tin một doanh nhân chế tạo được tàu ngầm. Rồi trước đó là tin về bác nông dân lai tạo thành công giống mít lạ, anh thợ sửa xe máy chế tạo trực thăng, hay em học sinh nọ sáng chế ra máy quét rác thông minh. Đó là tin mừng về khả năng sáng tạo của người Việt và của nhân loại nói chung.

Công luận ca ngợi những chế tạo này (tác giả bài viết không sử dụng từ “phát minh” vì “phát minh” là một phát kiến hoàn toàn mới mẻ). Thậm chí với hơn 200 bình luận, một bộ phận công luận còn cho rằng doanh nhân chế tạo tàu ngầm tài năng hơn vài chục tiến sĩ . Ngoài ý nghĩa thường gặp của “tiến sĩ giấy” khi mỉa mai những người học tiến sĩ theo những phương thức đào tạo không hợp pháp hay khoa học, cụm từ “tiến sĩ giấy” còn nhằm nói đến những nhà khoa học không có khả năng chế tạo.

Khi “tiến sĩ giấy” ám chỉ sự thiếu hụt năng lực chế tạo của các nhà khoa học, tác giả cho rằng chúng ta cần xem xét lại tiến sĩ ở mức độ nào là “giấy”, thông qua việc tìm hiểu các loại bằng cấp tiến sĩ, thuộc tính đào tạo, và ứng dụng nghiên cứu khoa học vào thực tiễn.

Chúng tôi đã thừa thuốc gây mê, thưa tiến sĩ

ích :http://www.rfavietnam.com/node/1982

Bài phỏng vấn tiến sĩ người Áo gốc Việt Đặng Hoàng Giang: “Phương Tây - một giấc mơ hời hợt!” trên báo Lao động* đang được nhiều người đọc và tranh luận. Tôi có cái nhìn khác vể bài viết này, trước nhất là lời cám ơn ông TS Đặng Hoàng Giang: Cám ơn về liều thuốc an thần của ông có nhã ý muốn tặng cho người dân chúng tôi.

Cuộc sống không chỉ là cơm ăn áo mặc, nó còn là tự do và những ao ước cần được xã hội thừa nhận. Ông về VN và ngắm nghía đời sống ở đây như Tây ngắm người Việt mặc dù ông nói tiếng Việt thạo hơn Tây nhưng ông chưa tiêu hóa được cái mà Tây nó vượt trội hơn Việt.

Theo Box của bài viết ghi rằng: “Từ năm 2008, ông là Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu phát triển và Hỗ trợ cộng đồng (CECODES) - một tổ chức phi chính phủ đi đầu ở Việt Nam trong việc thúc đẩy xã hội dân sự, minh bạch và nâng cao tiếng nói của người dân.”
Nhà nước mà ông đang nhận lương để nghiên cứu có cách nhìn như thế nào về xã hội dân sự, cái mà ông đang vận động và nghiên cứu? Sao ông không nhắc tới điều cực kỳ quan trọng này trong bài phỏng vấn?

Những chuyện khó tin trong nghiên cứu khoa học ở Việt Nam

Nguyễn văn Tuấn

Tôi có may mắn được tiếp xúc với nhiều tập san khoa học, bạn bè và đồng nghiệp trong nước từ Nam chí Bắc. Qua những tiếp xúc đó, tôi biết được vài chuyện (không dám nói tất cả) rất … khó tin. Khó tin nhưng hoàn toàn có thật. Những chuyện này ảnh hưởng đến cái mà tiếng Anh gọi là “credibility” (độ tin cậy) của khoa học nước nhà.

“Quan tiến sĩ” giúp gì cho việc trị nước?

Theo thống kê, Việt Nam có khoảng 24.300 tiến sĩ. Trong đó chỉ có hơn 9.000 tiến sĩ đang giảng dạy tại các trường.


Như vậy 15.000 tiến sĩ còn lại không ít người đang làm quan chức. Vấn đề đặt ra ở đây là tấm bằng tiến sĩ giúp gì cho việc lãnh đạo, quản lý đất nước hay nó chỉ làm tăng thêm nạn “tiến sĩ giấy”? Các chuyên gia, nhà phê bình am tường về lĩnh vực nghiên cứu cũng như hành chính công để cùng bàn thảo.

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: Tán thành tách rời học vị với địa vị

Tôi cho rằng cái việc đề ra mục tiêu phấn đấu có 20.000 tiến sĩ trong thời gian từ nay đến năm 2020 cũng là xuất phát từ cách hiểu sai quan niệm đào tạo tiến sĩ. Nguy hơn nữa là đòi hỏi “tiến sĩ hóa” đội ngũ công chức của bộ máy nhà nước.

Samstag, 22. März 2014

Đọc lại Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng


“… Còn em, một học trò, mà tàn ác nhất là học trò trường cô dạy, hai bàn tay trắng không biết đếm tiền, chỉ biết đánh lộn, đánh vỡ hết những gì làm mình thất vọng khổ đau, với vòng tay học trò không bao giờ ôm giữ nổi đời cô”.
(Thư của học trò Nguyễn Duy Minh
gửi cho cô giáo Tôn Nữ Quỳnh Trâm 
trong Vòng tay học trò)


Gần 70 tuổi đầu mà còn ngồi đọc lại Vòng tay học trò (VTHT) của Nguyễn Thị Hoàng kể ra thì cũng hơi lạ. Tôi biết nhiều người sẽ nhíu mày khi đọc cái tít của entry này, thậm chí có thể còn phê phán:‘Ông già không nên nết!’. Xin hiểu cho tôi, đọc lại VTHT vào lúc này không phải đơn thuần để giải trí, mục đích chính là vì muốn tìm lại hình ảnh của Mai Tiến Thành, bạn học của tôi từ năm Đệ Ngũ trên Ban Mê Thuột.

Gia đình tôi phải di chuyển từ Đà Lạt sang Ban Mê Thuột vì lý do thuyên chuyển công vụ của bố. Chúng tôi ở căn nhà số 31 Lý Thường Kiệt, gần ngã tư Lý Thường Kiệt - Ama Trang Long. Ngay góc đường có tiệm ăn Tàu tên Mỹ Cảnh và phía đối diện bên kia đường Lý Thường Kiệt là tiệm bán đồ phụ tùng xe hơi mang bảng hiệu  Lê Đức Viên. Thực ra thì ngay trên đường Lý Thường Kiệt có tới 3 tiệm bán phụ tùng xe hơi nằm kế nhau: Lê Đức Viên, Tô Hoa và Quảng Thành.

Đâu là chân dung đích thực của tác giả tiểu thuyết "Vòng tay học trò"?

                                                          Du Tử Lê                                                              
Vừa nhận được tấm hình mới nhất của nữ văn sĩ do một người bạn từ Saigon gửi qua khiến tôi nảy ra ý định viết về những người đàn bà nổi danh một thời. Viết về người khác không phải là một việc khó, nhưng viết mà lột trần một vài bí ẩn của họ thì có vẻ tàn nhẫn quá chăng? Vì thế khi viết về họ, tôi cố gắng viết phớt qua những sự kiện trung thực, một vài nếp sinh hoạt nổi bật, hoặc qua lời người trong cuộc kể lại, hoặc từ những bài viết khả tín. Tấm hình tôi vừa nhận được là tấm hình bà Nguyễn thị Hoàng chụp mấy năm gần đây.

                  Nữ văn sĩ Nguyễn Thị Hoàng
  
Lâu rồi không gặp, giờ nhìn lại thấy cung cách bà vẫn như ngày xưa, là thứ dáng dấp trưởng giả cấp tiến của Paris ít người bắt chước cho giống. Bà Nguyễn thị Hoàng tuy không đẹp, nhưng khi xuất hiện bao giờ cũng tạo cho mình một nét riêng với lối chụp hình huyền ảo, huyễn hoặc. Trong hình bà Hoàng đội chiếc nón rộng vành màu đen che khuất một góc mũi gãy trên khuôn mặt nhỏ nhắn với đôi mắt tô mí thật đậm nhưng cố tình khép hờ để che giấu nét già nua mỏi mệt cùng với nụ cười mõng tinh quái trong chiếc áo len mềm màu lá úa ôm sát thân hình gầy dẹp nhưng mềm mại. 

Freitag, 21. März 2014

Làng xã Việt Nam- ảnh hưởng của Nho giáo và H Ệ LUỴ



 Làng xã ở phương Đông
Làng họ:
Ở đây tôi không dùng chữ làng xã tự trị mà tôi  dùng chữ làng họ. Sự tập trung chuyên chế thành thể chế chính trị – xã hội như thế đã hình thành từ trước khi chế độ cộng sản nguyên thủy chưa tan rã để đến mức ra đời hai giai cấp đối lập trong công xã là chủ nô và nô lệ. Ở bên kia, ở phương Tây, chủ nô và nô lệ ra đời trên cơ sở sự tan rã công xã; ở đây, ở phương Đông, quá trình đó chưa diễn ra trọn vẹn mà chỉ có một tình hình được Dương Vinh Quốc gọi là “chế độ chủng tộc nô lệ”. 

Mittwoch, 19. März 2014

Tính háo danh vụ lợi nhỏ mọn của người Việt

Việt Nam có hơn 24.000 tiến sĩ, đông bậc nhất thế giới nhưng là nước nghèo nàn đội sổ bậc nhất thế giới, và cũng có đông người làm thơ nhất cỡ ít ra cả triệu nhà thơ nhưng không thấy tác phẩm lớn mà chỉ thấy các mẩu vụn vẫn được gọi là “thơ hắt hơi”, những thứ bé hơn cả chuồng gà chuồng vịt. Tại sao? Bởi vì người Việt chỉ háo danh hão huyền nhắm vào vụ lợi “tham bát bỏ mâm” gắp cho mình, nên đất nước mới nghèo nàn lạc hậu và thi ca chỉ là chiếu rách à ơi mua vui bên chén rượu nhạt hay chén trà trong chốc lát. Hôm nay tôi xin bàn vào việc này.

Số lượng hơn 24.000 tiến sĩ Việt, kết quả thế nào? Nếu mỗi tiến sĩ chỉ cần viết một bài tiểu luận, thì chúng ta sẽ có ngần ấy bài, và in được khoảng 240 cuốn sách dầy dặn với mỗi cuốn có 100 bài. Nhưng than ôi, làm gì có ai thấy hơn hai trăm cuốn sách đó, mà 24 cuốn cũng không?

Nhìn lại vấn đề kỳ thị Nam Bắc

André Maurois – nhà văn Pháp (1885-1967), khi viết về những kinh nghiệm chiến tranh như cuốn Les silences du Colonel Bramble - có lần đã viết: “ Đôi khi người ta cần đọc lại một quá khứ, bởi vì người ta hằng mong muốn cái quá khứ ấy nó tốt đẹp hơn nữa ” .



Trong ý hướng đó, người viết bài này mong muốn mỗi một sự việc, một câu chuyện được viết ra trong bài này - dù tích cực hay tiêu cực, dù hay hay dở - dù đó là có công hay tội với lịch sử . Nó cũng đáng để cho người đời sau đọc để mà suy nghĩ , để làm bài học cho chính mình hoặc cho con cháu mình .

Bài viết này cũng như tất cả các bài viết khác trong tập sách sắp tới của tác giả này đều nhắm một mục đích khơi dậy quá khứ để mở ra tương lai .

Vì thế , đây là những bài viết không hẳn để phê phán, để định công luận tội mà như một nhìn lại . Ở đâu cũng vậy và ở thời nào cũng vậy , sự trung thực và sự can đảm dám nói lên vẫn là tiêu chí cho một người cầm bút .

Montag, 3. März 2014

Giáo dục ở miền Nam VietNam …. Những con số biết nói


DaihocSuPhamSaigon
Đại học Sư Phạm Saigon
Công việc giáo dục ở miền Nam bắt đầu từ giai đoạnn chuyển tiếp từ nền giáo dục thuộc Pháp sang Việt Nam. Việc thâu hồi chủ quyền đại học từ trong tay người Pháp chỉ được thực hiện vào ngày 11/05/1955. Lúc đó chúng ta, VNCH mới có một nền giáo dục do Bộ Giáo Dục đảm trách.
Hãy nhìn lại cho thấy thời bắt đầu của một miền Nam VNCH. Các thầy giáo trung học, trình độ còn thấp, học lực có người chỉ là giáo viên tiểu học đưa lên. Nhưng tư cách đạo đức là không thiếu.
Chẳng hạn, cụ Hiệu Trưởng Vũ Ngô Xàn, ngạch giáo viên lên Thanh tra và hiệu trưởng Chu Văn An. Cụ cũng là người trách nhiệm chọn đề thi lúc ban đầu 1954‒1955. Tiếp đến các cụ hiệu trưởng kế vị như Trần Văn Việt, Nguyễn Hữu Văn, Đàm Xuân Thiều, Lê Văn Lâm, Bùi Đình Tấn, Dương Minh Kính…