Samstag, 22. März 2014

Đọc lại Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng


“… Còn em, một học trò, mà tàn ác nhất là học trò trường cô dạy, hai bàn tay trắng không biết đếm tiền, chỉ biết đánh lộn, đánh vỡ hết những gì làm mình thất vọng khổ đau, với vòng tay học trò không bao giờ ôm giữ nổi đời cô”.
(Thư của học trò Nguyễn Duy Minh
gửi cho cô giáo Tôn Nữ Quỳnh Trâm 
trong Vòng tay học trò)


Gần 70 tuổi đầu mà còn ngồi đọc lại Vòng tay học trò (VTHT) của Nguyễn Thị Hoàng kể ra thì cũng hơi lạ. Tôi biết nhiều người sẽ nhíu mày khi đọc cái tít của entry này, thậm chí có thể còn phê phán:‘Ông già không nên nết!’. Xin hiểu cho tôi, đọc lại VTHT vào lúc này không phải đơn thuần để giải trí, mục đích chính là vì muốn tìm lại hình ảnh của Mai Tiến Thành, bạn học của tôi từ năm Đệ Ngũ trên Ban Mê Thuột.

Gia đình tôi phải di chuyển từ Đà Lạt sang Ban Mê Thuột vì lý do thuyên chuyển công vụ của bố. Chúng tôi ở căn nhà số 31 Lý Thường Kiệt, gần ngã tư Lý Thường Kiệt - Ama Trang Long. Ngay góc đường có tiệm ăn Tàu tên Mỹ Cảnh và phía đối diện bên kia đường Lý Thường Kiệt là tiệm bán đồ phụ tùng xe hơi mang bảng hiệu  Lê Đức Viên. Thực ra thì ngay trên đường Lý Thường Kiệt có tới 3 tiệm bán phụ tùng xe hơi nằm kế nhau: Lê Đức Viên, Tô Hoa và Quảng Thành.

Đâu là chân dung đích thực của tác giả tiểu thuyết "Vòng tay học trò"?

                                                          Du Tử Lê                                                              
Vừa nhận được tấm hình mới nhất của nữ văn sĩ do một người bạn từ Saigon gửi qua khiến tôi nảy ra ý định viết về những người đàn bà nổi danh một thời. Viết về người khác không phải là một việc khó, nhưng viết mà lột trần một vài bí ẩn của họ thì có vẻ tàn nhẫn quá chăng? Vì thế khi viết về họ, tôi cố gắng viết phớt qua những sự kiện trung thực, một vài nếp sinh hoạt nổi bật, hoặc qua lời người trong cuộc kể lại, hoặc từ những bài viết khả tín. Tấm hình tôi vừa nhận được là tấm hình bà Nguyễn thị Hoàng chụp mấy năm gần đây.

                  Nữ văn sĩ Nguyễn Thị Hoàng
  
Lâu rồi không gặp, giờ nhìn lại thấy cung cách bà vẫn như ngày xưa, là thứ dáng dấp trưởng giả cấp tiến của Paris ít người bắt chước cho giống. Bà Nguyễn thị Hoàng tuy không đẹp, nhưng khi xuất hiện bao giờ cũng tạo cho mình một nét riêng với lối chụp hình huyền ảo, huyễn hoặc. Trong hình bà Hoàng đội chiếc nón rộng vành màu đen che khuất một góc mũi gãy trên khuôn mặt nhỏ nhắn với đôi mắt tô mí thật đậm nhưng cố tình khép hờ để che giấu nét già nua mỏi mệt cùng với nụ cười mõng tinh quái trong chiếc áo len mềm màu lá úa ôm sát thân hình gầy dẹp nhưng mềm mại. 

Freitag, 21. März 2014

Làng xã Việt Nam- ảnh hưởng của Nho giáo và H Ệ LUỴ



 Làng xã ở phương Đông
Làng họ:
Ở đây tôi không dùng chữ làng xã tự trị mà tôi  dùng chữ làng họ. Sự tập trung chuyên chế thành thể chế chính trị – xã hội như thế đã hình thành từ trước khi chế độ cộng sản nguyên thủy chưa tan rã để đến mức ra đời hai giai cấp đối lập trong công xã là chủ nô và nô lệ. Ở bên kia, ở phương Tây, chủ nô và nô lệ ra đời trên cơ sở sự tan rã công xã; ở đây, ở phương Đông, quá trình đó chưa diễn ra trọn vẹn mà chỉ có một tình hình được Dương Vinh Quốc gọi là “chế độ chủng tộc nô lệ”. 

Mittwoch, 19. März 2014

Tính háo danh vụ lợi nhỏ mọn của người Việt

Việt Nam có hơn 24.000 tiến sĩ, đông bậc nhất thế giới nhưng là nước nghèo nàn đội sổ bậc nhất thế giới, và cũng có đông người làm thơ nhất cỡ ít ra cả triệu nhà thơ nhưng không thấy tác phẩm lớn mà chỉ thấy các mẩu vụn vẫn được gọi là “thơ hắt hơi”, những thứ bé hơn cả chuồng gà chuồng vịt. Tại sao? Bởi vì người Việt chỉ háo danh hão huyền nhắm vào vụ lợi “tham bát bỏ mâm” gắp cho mình, nên đất nước mới nghèo nàn lạc hậu và thi ca chỉ là chiếu rách à ơi mua vui bên chén rượu nhạt hay chén trà trong chốc lát. Hôm nay tôi xin bàn vào việc này.

Số lượng hơn 24.000 tiến sĩ Việt, kết quả thế nào? Nếu mỗi tiến sĩ chỉ cần viết một bài tiểu luận, thì chúng ta sẽ có ngần ấy bài, và in được khoảng 240 cuốn sách dầy dặn với mỗi cuốn có 100 bài. Nhưng than ôi, làm gì có ai thấy hơn hai trăm cuốn sách đó, mà 24 cuốn cũng không?

Nhìn lại vấn đề kỳ thị Nam Bắc

André Maurois – nhà văn Pháp (1885-1967), khi viết về những kinh nghiệm chiến tranh như cuốn Les silences du Colonel Bramble - có lần đã viết: “ Đôi khi người ta cần đọc lại một quá khứ, bởi vì người ta hằng mong muốn cái quá khứ ấy nó tốt đẹp hơn nữa ” .



Trong ý hướng đó, người viết bài này mong muốn mỗi một sự việc, một câu chuyện được viết ra trong bài này - dù tích cực hay tiêu cực, dù hay hay dở - dù đó là có công hay tội với lịch sử . Nó cũng đáng để cho người đời sau đọc để mà suy nghĩ , để làm bài học cho chính mình hoặc cho con cháu mình .

Bài viết này cũng như tất cả các bài viết khác trong tập sách sắp tới của tác giả này đều nhắm một mục đích khơi dậy quá khứ để mở ra tương lai .

Vì thế , đây là những bài viết không hẳn để phê phán, để định công luận tội mà như một nhìn lại . Ở đâu cũng vậy và ở thời nào cũng vậy , sự trung thực và sự can đảm dám nói lên vẫn là tiêu chí cho một người cầm bút .

Montag, 3. März 2014

Giáo dục ở miền Nam VietNam …. Những con số biết nói


DaihocSuPhamSaigon
Đại học Sư Phạm Saigon
Công việc giáo dục ở miền Nam bắt đầu từ giai đoạnn chuyển tiếp từ nền giáo dục thuộc Pháp sang Việt Nam. Việc thâu hồi chủ quyền đại học từ trong tay người Pháp chỉ được thực hiện vào ngày 11/05/1955. Lúc đó chúng ta, VNCH mới có một nền giáo dục do Bộ Giáo Dục đảm trách.
Hãy nhìn lại cho thấy thời bắt đầu của một miền Nam VNCH. Các thầy giáo trung học, trình độ còn thấp, học lực có người chỉ là giáo viên tiểu học đưa lên. Nhưng tư cách đạo đức là không thiếu.
Chẳng hạn, cụ Hiệu Trưởng Vũ Ngô Xàn, ngạch giáo viên lên Thanh tra và hiệu trưởng Chu Văn An. Cụ cũng là người trách nhiệm chọn đề thi lúc ban đầu 1954‒1955. Tiếp đến các cụ hiệu trưởng kế vị như Trần Văn Việt, Nguyễn Hữu Văn, Đàm Xuân Thiều, Lê Văn Lâm, Bùi Đình Tấn, Dương Minh Kính…

Freitag, 28. Februar 2014

Bốn mươi năm sau ĐỌC LẠI TÁC PHẨM MÌNH

Bốn mươi năm sau ĐỌC LẠI TÁC PHẨM MÌNH

Thứ Hai, ngày 06 tháng 9 năm 2010

Trang Châu

Cuốn Y Sĩ Tiền Tuyến được viết thành một bút ký dài với mục đích tiên khởi là để dự thi Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc do nền Đệ Nhị Cộng Hòa tái lập vào năm 1969. Giải thưởng nầy, được thiết lập dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, bị gián đoạn sau cuộc chính biến năm 1963. Tôi còn nhớ mình hăm hở viết, được trang nào là đưa cho người hạ sĩ quan thư ký đánh máy. Lúc ấy tôi đang là Đại Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy kiêm y sĩ gây mê của bệnh viện Đỗ Vinh của Sư Đoàn Dù. Tôi hăm hở viết vì điều kiện dự thi không bắt buộc phải là một tác phẩm đã xuất bản và nếu hoàn tất trong vòng sáu tháng thì kịp thời hạn chót để nộp tác phẩm dự thi. Tôi hăm hở viết vì trong thời gian đang thụ huấn chuyên môn gây mê tại Tổng Y Viện Cộng Hòa tôi được tin bài bút ký Đường Ra Bến Hải của tôi được chấm giải nhất trong cuộc thi bút ký chiến đấu do báo Tiền Phong của Cục Tâm Lý Chiến tổ chức. Khi đi lãnh giải thưởng 10.000 đồng tôi mới biết chánh chủ khảo cuộc thi nầy là nhà văn kiêm nhà báo Nguyễn Đạt Thịnh. Tôi nghĩ chính giải thưởng nầy là động cơ thôi thúc tôi hoàn tất cuốn Y Sĩ Tiền Tuyến.

NGUYỆT SAN TÌNH THƯƠNG 1963-1967Tiếng nói của Sinh viên Y Khoa
Gửi Nghiêm Sỹ Tuấnvà các Bạn Nhóm Tình Thương
DẪN NHẬP: Nhà văn Trần Hoài Thư, người đầu tiên thực hiện kỹ thuật POD/ Print-On-Demand cho sách báo Việt Nam ở hải ngoại, và mới đây Thư Quán Bản Thảo đã hoàn tất bộ sách Văn Miền Nam, dày hơn hai ngàn trang, tập hợp hầu hết các tạp chí văn học trước 1975_ chỉ thiếu báo Tình Thương. Anh THT cho biết như vậy. Rồi cũng thật bất ngờ, khi hai anh Trần Mộng Lâm và Thân Trọng An từ Montréal Canada cho biết “Tập San Y Sĩ sẽ thực hiện một số chủ đề về báo Tình Thương: viết về sự ra đời, vai trò và những thành quả của tờ báo này, cùng với những kỷ niệm một thời xa xưa của chúng ta.” Hy vọng đây sẽ là một số báo đặc biệt với nhiều người viết, liên hệ tới một nguyệt san ra đời cách đây đã 46 năm của những người sinh viên áo trắng, đã tốt nghiệp, rời xa mái trường xưa, trong đó có một số Bạn đã ra đi rất sớm trong chiến tranh hoặc những nguyên nhân khác về tuổi tác sau này. Được tham dự vào ban Biên tập Tình Thương từ số báo đầu tiên cho tới ngày báo bị đình bản, với tôi đó là những năm tháng không thể nào quên. Với một bút ký ngắn như một sơ thảo, có thể còn thiếu sót nhưng vẫn mong đây là một đóng góp với các bạn trong nhóm Tình Thương cho số báo chủ đề TSYS ấy để cùng “Tìm Lại Khoảng thời Gian Đã Mất.”
VẬY MÀ ĐÃ 46 NĂM RỒI
Thời gian ở trường Y khoa, đó thực sự là những năm xanh của một đời người. Không phải chỉ có học, chúng tôi còn có những bận rộn ngoài chuyên môn y khoa như hoạt động sinh viên và cùng với các bạn trông nom tờ báo Tình Thương. Tờ báo ấy ra đời trong một hoàn cảnh và thời điểm đặc biệt ngay sau biến động tháng 11 năm 1963. Ý kiến ra báo có lẽ là từ nhiều người, như các anh Trần Xuân Ninh, Phạm Đình Vy, Phạm Văn Lương… Với manchette báo mang tên Tình Thương, ban đầu do Phạm Đình Vy đứng tên Chủ nhiệm, Nguyễn Vĩnh Đức Chủ Bút, Trần Xuân Dũng Tổng Thư ký, Nghiêm Sỹ Tuấn Thư ký và Vũ Thiện Đạm là Thủ quỹ. Với đường lối được ghi dưới tên báo: cơ quan tranh đấu văn hóa xã hội của sinh viên Y khoa.

Mittwoch, 29. Januar 2014

Tại sao Quốc Ca VNCH lại là một bài hát của một Đảng viên Cộng Sản?

Đọc báo mạng, chúng ta thường bắt gặp một số phản hồi từ các độc giả trẻ trong nước thắc mắc tại sao Việt Nam Cộng Hòa và các cộng đồng người Việt Quốc gia hải ngoại lại lấy một bài hát của Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, một Đảng viên Cộng Sản, để làm bài Quốc ca ?

Để góp phần giải tỏa phần nào thắc mắc của các bạn trẻ trong nước, trước hết, nên tìm về lai lịch khá đặc biệt của bài hát danh tiếng này.

Bối cảnh 

Nửa đầu Thế kỉ 20, cả Đông Dương thuộc Pháp (Việt-Miên-Lào) chỉ có một Đại học mang tên Đại Học Đông Dương (Université de L’Indochine) tại Hà Nội. Hồi những năm 1940, có khoảng trên 800 sinh viên theo học ở đây, bao gồm phân nửa là sinh viên Việt Nam, còn lại là các sinh viên Miên, Lào, Pháp và có cả một ít sinh viên Tầu và vài nước Đông Nam Á nữa.

Freitag, 17. Januar 2014

Xe gắn máy tại miền Nam trước 1975

Xe gắn máy tại miền Nam trước 75
Có thể nói xe đạp và xe gắn máy là phương tiện di chuyển chiếm đa số tại miền Nam trước 1975 và cho đến nay, xe gắn máy vẫn là phương tiện di chuyển được nhiều người sử dụng nhất. Bài này xin nhắc lại một số xe gắn máy đã hiện diện tại miền Nam trước 1975.